Kể từ hơn 600 năm qua dưới các triều đại Nguyên, Minh, Thanh, Ngoại Mông luôn là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng vào thế kỷ trước, việc Ngoại Mông độc lập đã khiến Trung Quốc mất đi 1,5 triệu km vuông đất đai. Diện tích này tương đương với hơn 40 cái Đài Loan. Đại gia đình Trung Quốc đã mất đi một thành viên quan trọng, đây là một chương bi thương trong lịch sử Trung Quốc cận đại. Theo luận điệu của bộ máy tuyên truyền chính thức tại Đại lục hiện nay, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch đã bán đứng Ngoại Mông, khiến vùng đất này độc lập. Nhưng đây lại không phải là sự thật.
Đối với những người lớn lên ở Đại lục, hầu hết đều có một khoảng trống kiến thức về giai đoạn lịch sử Ngoại Mông độc lập. Lý do là sách giáo khoa lịch sử hiếm khi đề cập đến. Điều này thực chất đã nói lên rất nhiều điều, sách giáo khoa lịch sử chính thức thực chất chính là tài liệu giáo dục chính trị. Đối với những nội dung có lợi cho giới chức, sách giáo khoa lịch sử chắc chắn sẽ tô vẽ đậm nét. Ví dụ, đối với hàng loạt hiệp ước nhượng bộ và mất chủ quyền do chính quyền nhà Thanh ký kết, sách giáo khoa lịch sử đều ghi chép chi tiết, điều này được dùng để so sánh nhằm làm nổi bật cái gọi là sự ưu việt của xã hội mới. Nếu quả thực Tưởng Giới Thạch là người một tay bán đứng Mông Cổ, thì với tư cách là bằng chứng phạm tội của phe phản động Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, thời lượng và giấy mực dành cho nó trong sách giáo khoa lịch sử chắc chắn sẽ vượt xa những hiệp ước mà chính quyền nhà Thanh đã ký. Nhưng giới chức Đại lục không dám làm như vậy, bởi vì đó không phải là sự thật lịch sử. Nếu nhìn nhận sự kiện này một cách toàn diện, chúng ta sẽ hiểu rằng việc Ngoại Mông tách khỏi Trung Quốc hoàn toàn là do Đảng Cộng sản Liên Xô (ĐCS Liên Xô) một tay gây ra. Một mặt, ĐCS Liên Xô xâm lược Ngoại Mông từ bên ngoài, lợi dụng cường quyền để kéo Ngoại Mông ra khỏi biên giới quốc gia; mặt khác, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) ở trong nước đã chặn đứt hoàn toàn con đường trở về của Ngoại Mông, hùa theo ĐCS Liên Xô để đẩy vùng đất này ra khỏi đất nước. Một kéo một đẩy, đã tạo nên chặng đường trăm năm phiêu bạt của Ngoại Mông cho đến tận ngày nay.
Câu chuyện lịch sử bắt đầu từ một trăm năm trước. Cùng với sự thành công của Cách mạng Tân Hợi năm 1911, nước Nga khi đó đã nhân cơ hội xuất binh vào Ngoại Mông, bồi dưỡng cho Ngoại Mông độc lập. Năm 1917, chính quyền ĐCS Liên Xô được thành lập, vậy mà lại ngang nhiên gọi Ngoại Mông là một quốc gia độc lập và yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao. Chính phủ Dân Quốc luôn không công nhận sự độc lập của Ngoại Mông. Năm 1919, Tổng thống Dân Quốc Từ Thế Xương đã cử Từ Thụ Tranh đem quân thu hồi Ngoại Mông. Năm 1921 là một năm then chốt trong lịch sử Ngoại Mông, trong năm này, Hồng quân của ĐCS Liên Xô đã xâm nhập vào Ngoại Mông, thế là Ngoại Mông vừa mới trở về lại một lần nữa bị kéo ra khỏi biên giới. Từ đó cho đến khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, trong suốt 70 năm, quân đội của ĐCS Liên Xô chưa từng rời khỏi Ngoại Mông.
Quân đội ĐCS Liên Xô đã xâm nhập Mông Cổ vào ngày 25 tháng 5 năm 1921, tiến vào Khố Luân (nay là thủ đô Ulaanbaatar của Ngoại Mông) vào ngày 6 tháng 7, và dựng lên một chính phủ bù nhìn thân Liên Xô vào ngày 11 tháng 7, và ngày này sau đó cũng trở thành ngày quốc khánh của Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Chính phủ Dân Quốc khi đó đương nhiên không công nhận lần độc lập này của Ngoại Mông. Nhưng ĐCS Liên Xô lại sử dụng mọi thủ đoạn để hòng chiếm đoạt Ngoại Mông vĩnh viễn.
Tháng 4 năm 1941, ĐCS Liên Xô thậm chí còn ký kết hiệp ước hữu nghị không xâm phạm lẫn nhau với Nhật Bản – quốc gia đang xâm lược Trung Quốc lúc bấy giờ, và hiệp ước này được xây dựng trên cơ sở Nhật Bản công nhận sự độc lập của Ngoại Mông, còn ĐCS Liên Xô công nhận Mãn Châu Quốc.
Năm 1945, Thế chiến thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Mỹ liên tiếp giành chiến thắng trước Nhật Bản trên chiến trường Thái Bình Dương. Khi đó Mỹ vẫn chưa chế tạo được bom nguyên tử, mặc dù việc đánh bại Nhật Bản không có vấn đề gì, nhưng để khiến Nhật Bản đầu hàng hoàn toàn, Mỹ vẫn cần phải giải quyết đội lục quân khổng lồ của Nhật Bản, và quân Đồng minh vẫn sẽ phải trả giá bằng những thương vong nặng nề. Trong bối cảnh này, Anh và Mỹ trong Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945 đã yêu cầu ĐCS Liên Xô xuất binh giúp đánh bại Nhật Bản sau khi Đức đầu hàng.
Việc xuất binh đánh Nhật đúng với ý đồ của ĐCS Liên Xô. Đối với ĐCS Liên Xô, trước sự thất bại liên tiếp của Nhật Bản, nếu không xuất binh, thì toàn bộ Đông Á sẽ bị Anh và Mỹ biến thành các quốc gia dân chủ, điều này rõ ràng là bất lợi cho ĐCS Liên Xô. Đồng thời, sau khi Nhật Bản bại trận, ĐCS Liên Xô sẽ phải đối mặt với một Trung Quốc thống nhất và phát triển hòa bình, mà khi Trung Quốc lớn mạnh, chắc chắn sẽ cản trở ĐCS Liên Xô tiếp tục chiếm đóng Ngoại Mông. Vì vậy, điều kiện mà ĐCS Liên Xô đưa ra khi đó là tiếp tục duy trì cái gọi là nền độc lập của Ngoại Mông khi ấy, đồng thời phải kiểm soát Đại Liên, Lữ Thuận và quyền lợi đường sắt ở Đông Bắc, v.v. Còn Anh và Mỹ lúc này vì muốn giảm thiểu thương vong cho chính mình và sớm kết thúc chiến tranh, đã đồng ý với những yêu cầu vô lý của ĐCS Liên Xô trong bối cảnh Trung Quốc vắng mặt tại hội nghị.
Chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch vào cuối tháng 6 năm 1945 đã cử Tống Tử Văn, Tưởng Kinh Quốc và những người khác đến Moscow để đàm phán với Stalin, bày tỏ rằng không thể chấp nhận việc Ngoại Mông độc lập. Nhưng Stalin kiên quyết yêu cầu Ngoại Mông độc lập như một điều kiện tất yếu để xuất binh, đồng thời tiếp tục yêu cầu các đặc quyền của ĐCS Liên Xô ở Đông Bắc. Đây là một cuộc đàm phán vô cùng gian nan và chậm chạp, kéo dài không dứt cho đến tháng 8. Ngày 6 tháng 8, Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima, Nhật Bản, lúc này việc Nhật Bản đầu hàng chỉ còn là chuyện sớm muộn, thực chất quân Đồng minh đã không còn cần ĐCS Liên Xô xuất binh nữa. Lúc này Stalin lại là người không thể chờ đợi thêm, mặc dù hiệp ước Trung – Xô chưa được ký kết, ông ta vẫn lập tức điều động hàng triệu quân Liên Xô xâm nhập vùng Đông Bắc Trung Quốc vào ngày 8 tháng 8 và chiếm lĩnh toàn bộ vùng này. Động thái này của ĐCS Liên Xô rõ ràng không phải để giúp Trung Quốc chống Nhật, mà là một sự cướp đoạt trắng trợn để mở rộng phạm vi thế lực của chính mình. Việc quân đội Liên Xô xâm nhập Đông Bắc đã mang lại mối đe dọa khổng lồ cho Trung Quốc và thậm chí là cả châu Á lúc bấy giờ.
Tưởng Giới Thạch lúc này phải đối mặt với một tình thế vô cùng nan giải, bởi vì vùng Đông Bắc đã hoàn toàn bị ĐCS Liên Xô chiếm đóng, ĐCS Liên Xô đã tiến sâu vào nội địa Trung Quốc. Ông có thể không đồng ý với những yêu cầu vô lý của ĐCS Liên Xô, nhưng ĐCS Liên Xô có thể tiếp tục chiếm đóng ba tỉnh Đông Bắc, đồng thời sẽ ra sức bồi dưỡng ĐCSTQ, tạo ra một cục diện chia cắt ở Trung Quốc tương tự như Đông Đức và Tây Đức sau này. Stalin thậm chí còn đe dọa sẽ sáp nhập Nội Mông vào Ngoại Mông, thành lập một nước Đại Mông Cổ độc lập. Trung Quốc, vừa mới thoát khỏi sự xâm lược của Nhật Bản, sẽ lại một lần nữa phải đối mặt với việc chống lại Liên Xô, và kẻ thù này thậm chí sẽ tàn bạo hơn cả Nhật Bản. Lựa chọn khác là chấp nhận yêu cầu của ĐCS Liên Xô, lấy đó làm điều kiện yêu cầu ĐCS Liên Xô rút khỏi Đông Bắc, đảm bảo tôn trọng chủ quyền của Tân Cương và không hỗ trợ ĐCSTQ. Chỉ cần Trung Quốc giành được cơ hội phát triển hòa bình, vài chục năm sau, quốc lực lớn mạnh, Mông Cổ vẫn có cơ hội trở về, và sự lựa chọn này thực sự là một quyết định bất đắc dĩ trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
Do đó, vào ngày 14 tháng 8 năm 1945, trong bối cảnh đại quân ĐCS Liên Xô đã tiến vào biên giới, chính phủ Dân Quốc và ĐCS Liên Xô cuối cùng đã ký kết “Hiệp ước Đồng minh Hữu nghị Trung – Xô”. Nếu Mông Cổ tổ chức trưng cầu dân ý để độc lập, Trung Quốc sẽ trên cơ sở đó công nhận nền độc lập của Mông Cổ. Còn ĐCS Liên Xô công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với ba tỉnh Đông Bắc; đối với sự kiện Y Ninh ở Tân Cương khi đó, ĐCS Liên Xô cam kết không can thiệp, tức là không mưu đồ chiếm đất đai của Tân Cương; ĐCS Liên Xô sẽ không ủng hộ ĐCSTQ.
Việc Tưởng Giới Thạch lúc đầu cho phép Ngoại Mông độc lập có điều kiện thực sự là một sự bất đắc dĩ dưới sức mạnh cường quyền của ĐCS Liên Xô, lúc bấy giờ Ngoại Mông đã bị ĐCS Liên Xô cưỡng chiếm hơn 20 năm. Tưởng Giới Thạch muốn sử dụng sự phát triển hòa bình của Trung Quốc để trải nhựa cho con đường trở về cội nguồn của Ngoại Mông trong tương lai. Công bằng mà nói, hướng tư duy chiến lược của Tưởng Giới Thạch thực sự không phải là không có lý. Nếu sau đó ĐCS Liên Xô không bội tín bạo nghĩa, Trung Hoa Dân Quốc có thể phát triển hòa bình sau khi chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống Nhật, không có Đại Nhảy Vọt, không có Cách mạng Văn hóa, thì vài thập kỷ sau, Trung Quốc có thể trở thành một trong những cường quốc dân chủ hàng đầu thế giới vào những năm 1980. Đó mới là sức mạnh thực sự, chứ không phải là sự “phát tướng” dị dạng hư ảo của Đại lục hiện nay. Sức mạnh đó nếu liên kết với các quốc gia dân chủ như Mỹ, sẽ trở nên vô cùng đáng sợ đối với ĐCS Liên Xô, và như thế sự sụp đổ của ĐCS Liên Xô vào cuối năm 1991 rất có thể đã đến sớm hơn.
Mọi người giờ đây đều biết rằng sau khi ĐCS Liên Xô sụp đổ, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ lập tức giải thể, một quốc gia Mông Cổ dân chủ mới được khai sinh ngay sau đó vào năm 1992. Nếu Trung Quốc khi đó đã là một cường quốc dân chủ, và giống như Trung Hoa Dân Quốc sau này không công nhận nền độc lập của Ngoại Mông, thì một Ngoại Mông dân chủ rất có thể đã trở về với một Trung Quốc dân chủ vào thời điểm đó.
Sai lầm lớn nhất của Tưởng Giới Thạch nằm ở chỗ ông đã tin vào những lời hứa của ĐCS Liên Xô. Còn Đảng Cộng sản từ trước đến nay luôn coi sự lừa dối là một trong những pháp bảo lớn của mình. Đông Bắc khi đó có một nền công nghiệp phát triển, tổng sản lượng vượt qua cả lục địa Nhật Bản. Sau khi tiến vào Đông Bắc, ĐCS Liên Xô đã cướp bóc điên cuồng, cưỡng hiếp phụ nữ, cướp đoạt tài sản dân chúng, tháo dỡ và vận chuyển những máy móc thiết bị tiên tiến nhất về Liên Xô. Sau đó lại vi phạm hiệp ước, đem hàng chục vạn khẩu súng, hàng nghìn khẩu pháo cùng đạn dược, vô số vải vóc lương thực của quân Nhật và 20 vạn quân Mãn Châu Quốc giao nộp toàn bộ cho ĐCSTQ. ĐCSTQ nhờ sự hỗ trợ của ĐCS Liên Xô đã nhanh chóng chiếm đóng vùng Đông Bắc giàu tài nguyên, và lấy đó làm căn cứ địa để giành chiến thắng trong cuộc nội chiến. Giống như lời Mao Trạch Đông đã nói tại Đại hội VII của ĐCSTQ, có được Đông Bắc, “thắng lợi của chúng ta trên toàn quốc đã có được một nền tảng vững chắc.” “Cũng có nghĩa là chắc chắn được thắng lợi của chúng ta.”
Tháng 10 năm 1945, Ngoại Mông tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý toàn dân, cuộc trưng cầu này diễn ra dưới sự uy hiếp bởi lưỡi lê của ĐCS Liên Xô, hoàn toàn không thể hiện được ý dân thực sự. Việc bỏ phiếu cũng không phải là hình thức bỏ phiếu kín công bằng, mà yêu cầu mỗi người phải đứng ra trước công chúng, ký tên lựa chọn vào cột độc lập hoặc không độc lập. Mọi người có thể tưởng tượng: năm xưa khi Mao Trạch Đông muốn khai trừ vĩnh viễn Lưu Thiếu Kỳ khỏi đảng, toàn bộ trung ương chỉ có nửa cánh tay giơ lên phản đối. Tương tự như cuộc bỏ phiếu kiểu này, không ai có đủ dũng khí để bày tỏ sự phản đối trước mặt ĐCS Liên Xô. Huống hồ rất nhiều người Mông Cổ không biết chữ, đều bị nhân viên của chính phủ bù nhìn chỉ định xem nên ký vào cột nào. Ngoài ra, nếu số người tham gia bỏ phiếu dưới 50%, cuộc bỏ phiếu sẽ không có hiệu lực, thế là chính quyền đã đánh số cho từng người, nếu vắng mặt, chính quyền sẽ thay mặt ký tên đồng ý, thậm chí một số lính Liên Xô đồn trú tại Mông Cổ cũng tham gia bỏ phiếu. Cuối cùng, ĐCS Liên Xô đã tạo ra một kỳ tích với dân số 50 vạn người và 100% phiếu tán thành. ĐCS Liên Xô lợi dụng cường quyền của mình, cuối cùng lại một lần nữa đắc ý trong việc bá chiếm Ngoại Mông.
Thời gian bước sang năm 1949, chính quyền Đại lục lên đài. Lúc bấy giờ, họ gọi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là phe phản động Quốc Dân Đảng, như vậy hoàn toàn có thể quang minh chính đại phế bỏ những hiệp ước mà bọn phản động đã ký kết. Nhưng giới chức Đại lục không những không làm như vậy, ngược lại chỉ trong vòng nửa tháng, đã vội vã tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Mông Cổ vào ngày 16 tháng 10. Mà khi đó, chỉ có ĐCS Liên Xô và ĐCSTQ là có quan hệ ngoại giao với Mông Cổ. Thực chất, ĐCSTQ từ những ngày đầu đã luôn ủng hộ Ngoại Mông độc lập.
Để lừa gạt người dân trong nước, tờ “Nhân Dân Nhật Báo” vào ngày 14 tháng 8 năm 1949 đã đăng một bài kỳ văn của văn nhân ngự dụng Quách Mạt Nhược mang tựa đề “Chúng ta nên nhận thức thế nào về việc Ngoại Mông độc lập” nhằm tẩy não dư luận, trong bài viết có đoạn: “…Thật ra nhân dân Ngoại Mông còn có khí phách hơn chúng ta, giác ngộ sớm hơn chúng ta, tỉnh táo hơn chúng ta để kết bạn với Liên Xô xã hội chủ nghĩa, nhờ vậy mà nhận được sự giúp đỡ, và được giải phóng sớm hơn chúng ta. Nếu chúng ta đứng trên lập trường chí công vô tư, chúng ta ngược lại nên tạ tội với nhân dân Ngoại Mông, gửi lời chào tri ân đến nhân dân Ngoại Mông, học tập nhân dân Ngoại Mông. Chứ lấy lý do gì mà lại đi theo gót chân của đế quốc Mỹ và bọn phản động Tưởng Giới Thạch, để đi ‘phẫn nộ’ với Liên Xô chứ?…”, “…Trung Quốc nhân dân và Mông Cổ nhân dân từ nay về sau nên là anh em thân thiết, chúng ta không thể cố chấp giữ lấy cái quan niệm lạc hậu về nước tông chủ và nước phiên thuộc được. Điều đó chẳng có mảy may gì đáng tự hào cả!…”. Bài xã luận chính thức này thể hiện một thái độ đầy ngưỡng mộ đối với việc quân đội Liên Xô chiếm đóng Mông Cổ, chỉ hận một nỗi quân đội Liên Xô không thể chiếm đóng Trung Quốc sớm hơn.
Lúc này, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc vì ĐCS Liên Xô đã bội tín, phản bội hiệp nghị không hỗ trợ ĐCSTQ, nên tuyên bố hủy bỏ hiệp ước đã ký với ĐCS Liên Xô trước đó. Thế là “Nhân Dân Nhật Báo” lại một lần nữa vào ngày 24 tháng 2 năm 1950 đăng bài xã luận của chuyên gia lịch sử Đảng Hoàng Hoa với tựa đề “Chỉ có phe phản động Quốc Dân Đảng mới căm ghét Mông Cổ độc lập”, trong bài viết đã xuyên tạc việc Từ Thụ Tranh phụng mệnh Tổng thống Dân Quốc thu hồi Mông Cổ năm 1919 thành “…Đế quốc Nhật Bản lại lợi dụng tướng quân Từ Thụ Tranh thuộc hệ An Phúc của quân phiệt Bắc Dương Trung Quốc xâm nhập Mông Cổ, thiết lập chế độ độc tài quân sự thân Nhật ở đó…”. Về việc Mông Cổ độc lập, bài xã luận viết: “…Công nhận Mông Cổ độc lập, đối với mỗi người Trung Quốc thực sự yêu nước mà nói, là lẽ đương nhiên, là điều đáng hoan hô. Chỉ có bọn phản động Quốc Dân Đảng mới căm ghét việc Mông Cổ độc lập, lúc bấy giờ chúng bị ép phải công nhận Mông Cổ độc lập, sau đó lại tung tin đồn nhảm, bôi nhọ nhân dân Mông Cổ, bôi nhọ Liên Xô, nói rằng: ‘Mông Cổ độc lập là sự đánh mất lãnh thổ Trung Quốc’…”.
Bài viết này đã chỉ rõ rằng Chính phủ Quốc Dân đã bị ép buộc phải công nhận Ngoại Mông độc lập, đồng thời thừa nhận rằng đối với ĐCSTQ, việc Ngoại Mông độc lập là chuyện hiển nhiên, là một điều đáng được hoan hô. Bài viết này ngoài việc lừa dối, còn chứa đầy sự đe dọa trắng trợn đối với những người dân phản đối sự độc lập của Ngoại Mông. Bởi vì trong bài viết tuyên bố rằng chỉ có phe phản động Quốc Dân Đảng mới căm hận việc Mông Cổ độc lập, mà vào những năm 1950, “phản động Quốc Dân Đảng” là một tội danh phải chịu cảnh đầu rơi máu chảy.
Tháng 10 năm 1950, Mao Trạch Đông lại cử Chu Ân Lai đến Mông Cổ chủ trì buổi lễ bàn giao chủ quyền. Cùng năm đó, Đại lục và Mông Cổ trao đổi bản đồ phân định biên giới, chính thức công nhận Ngoại Mông độc lập. Có thể thấy, giới chức Đại lục vào thời điểm trước và sau khi lập chính quyền năm 1949, đã vô cùng vội vã, và còn lấy làm quang minh chính đại khi đẩy Ngoại Mông ra khỏi biên giới quốc gia.
Năm 1952, chính phủ Dân Quốc nhận ra rằng kế hoạch phát triển hòa bình trước rồi mới mưu cầu sự trở về của Ngoại Mông không thể thành công trong thời gian ngắn, bèn bắt đầu tìm kiếm các phương sách khác hòng cố gắng níu giữ Ngoại Mông – đứa con lưu lạc xa nhà này. Đầu tiên, chính phủ Dân Quốc đã tố cáo Liên Xô tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1952 vì không thực hiện hiệp ước năm xưa. Sau khi điều tra, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã xác nhận lời tố cáo này là sự thật. Sau khi thành công trong việc tố cáo Liên Xô tại Liên Hợp Quốc, chính phủ Dân Quốc sau đó vào tháng 2 năm 1953 đã tuyên bố bản thông cáo về việc Ngoại Mông độc lập năm xưa mất hiệu lực. Qua đó có thể thấy chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch từ đầu đến cuối chưa bao giờ thực sự từ bỏ việc đưa Ngoại Mông trở về.
Năm 1955, ĐCS Liên Xô vận động cho Mông Cổ gia nhập Liên Hợp Quốc. Mỹ ban đầu phản đối, nhưng ĐCS Liên Xô đe dọa, nếu Mông Cổ không thể gia nhập, ĐCS Liên Xô sẽ phản đối Tây Ban Nha, Nhật Bản và các đồng minh khác của Mỹ gia nhập Liên Hợp Quốc. Mỹ không còn lựa chọn nào khác, đành phải quay lại làm công tác tư tưởng với chính phủ Dân Quốc. Ngày 22 tháng 11, Tổng thống Mỹ Eisenhower viết thư cho Tưởng Giới Thạch, bày tỏ rằng “13 quốc gia tha thiết mong mỏi gia nhập Liên Hợp Quốc, vì vậy thật xứng đáng để trả giá bằng việc đồng ý cho 5 quốc gia vệ tinh của Liên Xô vào Liên Hợp Quốc. Chúng ta không thể làm tổn hại đến đa số, nếu không thì tương đương với việc giúp đỡ chủ nghĩa cộng sản, và cũng sẽ làm suy giảm nghiêm trọng ảnh hưởng của chúng ta tại Liên Hợp Quốc.” Trong thư, ông cũng khuyên chính phủ Dân Quốc không nhất thiết phải bỏ phiếu tán thành cho Mông Cổ, chỉ cần bỏ phiếu trắng là được. Ông đặc biệt nhấn mạnh sự việc này “có tầm quan trọng rất lớn đối với cả hai chúng ta”. Ngày 26 tháng 11, Tưởng Giới Thạch viết thư trả lời Eisenhower, chỉ trích Mỹ nên chịu một phần trách nhiệm cho sự độc lập của Ngoại Mông, “chính vì chúng tôi đã nghe theo lời khuyên tốt bụng của chính phủ Mỹ”, mới ký kết “Hiệp ước Đồng minh Hữu nghị Trung – Xô” với Liên Xô. Ngày 28 tháng 11 năm 1955, Tổng thống Eisenhower lại viết thư cho Tưởng Giới Thạch, cảnh báo rằng nếu lạm dụng quyền phủ quyết, điều đó sẽ đồng nghĩa với sự đối đầu lại nguyện vọng của đa số thành viên Hội đồng Bảo an. Tưởng Giới Thạch lần này dứt khoát không trả lời thư, mà ngay vào ngày hôm sau đã công khai phát biểu một bản thông cáo báo chí, chính thức thông báo sẽ bỏ phiếu chống lại việc Mông Cổ gia nhập Liên Hợp Quốc. Mỹ sau đó đã thông qua Sở Thông tin để đưa ra một tuyên bố chỉ trích thái độ của chính phủ Dân Quốc. Ngày 13 tháng 12, chính phủ Dân Quốc đã bỏ phiếu chống lại việc Mông Cổ gia nhập tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Đây cũng là lá phiếu phủ quyết duy nhất mà chính phủ Dân Quốc từng đưa ra trong thời gian còn ở Liên Hợp Quốc. Để trả đũa, ĐCS Liên Xô sau đó cũng phủ quyết đơn xin gia nhập của các nước như Nhật Bản.
Năm 1961 lại là một năm then chốt đối với sự độc lập của Ngoại Mông. ĐCS Liên Xô cấu kết với một số quốc gia châu Phi để một lần nữa mưu cầu đưa Ngoại Mông vào Liên Hợp Quốc. Liên Xô và một số nước châu Phi đã đạt được thỏa thuận: Liên Xô ủng hộ Mauritania của châu Phi gia nhập Liên Hợp Quốc, trong khi các nước châu Phi ủng hộ Ngoại Mông vào Liên Hợp Quốc. Lúc bấy giờ, Trung Hoa Dân Quốc với tư cách là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nắm giữ quyền phủ quyết. Nhưng các nước châu Phi nếu bị chọc giận sẽ vì vậy mà ủng hộ chính quyền Đại lục gia nhập Liên Hợp Quốc. Trong tình hình này, việc bỏ phiếu phủ quyết cũng tương đương với việc chính phủ Dân Quốc tự cô lập mình khỏi Liên Hợp Quốc. Nếu chính phủ Dân Quốc rút khỏi Liên Hợp Quốc, thì chính quyền Đại lục chắc chắn sẽ thừa nước đục thả câu, cuối cùng Ngoại Mông vẫn sẽ gia nhập. Chính quyền Kennedy của Mỹ khi đó vô cùng căng thẳng, họ không muốn nhìn thấy Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, nên đã gây sức ép buộc chính phủ Dân Quốc không được sử dụng quyền phủ quyết, điều này đã gây ra sự căng thẳng chưa từng có trong quan hệ ngoại giao giữa chính phủ Dân Quốc và Mỹ. Trải qua vài tháng đàm phán ngoại giao, cuối cùng chính phủ Dân Quốc đã đồng ý không phủ quyết việc Mông Cổ vào Liên Hợp Quốc, và Mỹ cũng không được bỏ phiếu tán thành. Đổi lại, Kennedy lần đầu tiên tuyên bố công khai rằng Mỹ kiên quyết ủng hộ chính phủ Trung Hoa Dân Quốc; đồng thời biến việc chính quyền Đại lục gia nhập Liên Hợp Quốc thành một “vấn đề quan trọng” của Liên Hợp Quốc, tức là cần phải có sự đồng ý của hai phần ba đa số mới được thông qua; và Kennedy cam kết nếu bất cứ lúc nào quyền phủ quyết của Mỹ có thể ngăn cản hiệu quả chính quyền Đại lục vào Liên Hợp Quốc, Mỹ sẽ sử dụng quyền phủ quyết. Ngày 25 tháng 10 năm 1961, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã thông qua dự luật cho Mông Cổ gia nhập. Trung Hoa Dân Quốc không tham gia biểu quyết. Tưởng Giới Thạch khi nói về những được mất của sự kiện này trong cuộc họp của Quốc Dân Đảng vào tháng 11 năm 1961 đã nhận định: “Xét về toàn bộ chiến dịch trên thế giới, trong mục đích gián tiếp là ngăn chặn bè lũ ngụy quyền gia nhập, chúng ta có thể coi là đã đổi lấy một chiến thắng trong trận chiến vu hồi; nhưng trong mục đích trực tiếp là ngăn cản ngụy Mông gia nhập, không thể chối cãi, đó chính là một thất bại và nỗi nhục nhã nghiêm trọng của chúng ta!”. Ngày 1 tháng 12 năm 1961, Úc, Nhật Bản, Mỹ v.v. đã đề xuất một nghị án: bất kỳ nghị án nào liên quan đến việc thay đổi quyền đại diện của Trung Quốc đều là “Nghị án vấn đề quan trọng”. Ngày 15 tháng 12, nghị án này đã được thông qua thành Nghị quyết số 1668 của Đại hội đồng với 61 phiếu thuận, 37 phiếu chống, 7 phiếu trắng.
Mặc dù chính quyền Đại lục lúc bấy giờ vẫn chưa là thành viên Liên Hợp Quốc, nhưng lại đặc biệt phát hành một bộ tem kỷ niệm vào ngày 11 tháng 7 năm 1961, để ăn mừng cái gọi là kỷ niệm 40 năm thành công của Cách mạng Nhân dân Mông Cổ, nhưng thực chất là kỷ niệm 40 năm ngày quân đội Liên Xô chiếm đóng Ngoại Mông kể từ năm 1921. Hình ảnh chính trên con tem đầu tiên là quốc kỳ của hai nước Trung – Mông. Bức thứ hai là tòa nhà chính phủ của Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Việc giới chức Đại lục chọn thời khắc đặc biệt đó để phát hành loại tem này, mục đích là hò reo cổ vũ cho việc Mông Cổ gia nhập Liên Hợp Quốc. Trong những năm tháng ĐCS Liên Xô hung hăng ngang ngược đó, Ngoại Mông cuối cùng cũng đã gia nhập Liên Hợp Quốc, và tiến thêm một bước dài trên con đường độc lập.
Bản đồ Trung Quốc của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc có hình dáng của một chiếc lá thu hải đường, chứ không phải hình dạng một con gà trống, một điểm khác biệt lớn chính là bản đồ vẫn bao gồm cả Ngoại Mông. Dù thời gian trôi qua, những năm gần đây một số nhân viên của chính phủ Dân Quốc đã lãng quên sứ mệnh lịch sử của mình, khiến vị thế của Ngoại Mông trở nên mờ nhạt, nhưng cánh cửa cho Ngoại Mông trở về vẫn luôn rộng mở ở phía Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi ĐCS Liên Xô sụp đổ năm 1991, người dân Ngoại Mông cuối cùng cũng có thể độc lập tự chủ. Hai tháng sau, họ đã gỡ bỏ hai chữ “Nhân dân Cộng hòa” giả dối đó ra khỏi quốc hiệu, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ từ đó tiêu vong, và một nước Mông Cổ dân chủ được thành lập. Có lẽ trong tương lai, một Mông Cổ dân chủ sẽ đối diện với một nước Đại Trung Hoa dân chủ. Khi đó, người con phiêu bạt trăm năm này, sẽ có cơ hội để lựa chọn xem có nên trở lại vòng tay của cội nguồn hay không.
(Bài viết đã được lược bỏ một số đoạn)
Theo VisionTimes
Câu chuyện lịch sử#là #kẻ #đứng #sau #thúc #đẩy #sự #độc #lập #của #Ngoại #Mông #Tại #sao #lại #bắt #Tưởng #Giới #Thạch #gánh #tội1782289500



Tin cùng chuyên mục:
Lisa nhóm BlackPink 29 tuổi tài sản nghìn tỷ, vướng tin chia tay bạn trai tỷ phú
Jimin (BTS), CORTIS “độ” sức nóng cho Dior Men Xuân Hè 2027
Lấy chồng nhạc trưởng điển trai, tài hoa, siêu mẫu Thanh Hằng thay đổi thế nào?
Mèo 'tiên tri' dự đoán trận đấu Thụy Sĩ vs Canada: Kết quả ra sao?