Đại lừa đảo thế kỷ: Tại sao di chúc cuối cùng của Tôn Trung Sơn lại đi theo con đường Xô Viết?
14 Th3
Ngày 12 tháng 3 năm 1925, Quốc phụ Tôn Trung Sơn từ trần tại Bắc Bình. Ngay giữa lúc cả nước đang chịu tang, một bản “Di chúc gửi Liên Xô” bất ngờ xuất hiện, yêu cầu toàn đảng phải “sát cánh chiến đấu cùng nước Nga”. Bản “di chúc” này đã xác lập nền tảng cho chính sách “Liên Nga dung Cộng” (Liên kết với Nga, dung nạp Cộng sản), trực tiếp dẫn đến sự phân liệt nội bộ của Quốc dân Đảng và sự lớn mạnh nhanh chóng của Trung Cộng sau này. Nếu năm đó Tôn Trung Sơn còn tỉnh táo, liệu ông có thực sự phó thác tiền đồ của Trung Quốc cho chính thể Xô Viết mà ông từng nhiều lần đề phòng hay không?
Đây không phải là một bản di chúc, mà là một cuộc mưu sát chính trị được dàn dựng tỉ mỉ — mưu sát giấc mơ dân chủ chân thực nhất của Tôn Trung Sơn, đẩy Trung Quốc vào ngã tư đường đỏ rực. Văn bản quyết định vận mệnh Trung Quốc suốt trăm năm sau đó lại ẩn chứa những sự thật kinh hoàng ít người biết đến.
Trung Cộng lợi dụng “Quốc mẫu” Tống Khánh Linh để đoạt quyền: Chuyển hóa áp lực bên ngoài thành biến động nội bộ
Trong các sách lịch sử chính thống của Trung Cộng, Tống Khánh Linh là “chiến sĩ cộng sản vĩ đại”; trong niềm nuối tiếc của Quốc dân Đảng, bà là phu nhân Tổng lý phản bội gia môn; nhưng trong mắt các chuyên gia và hồ sơ lịch sử đã giải mật, bà giống như một “công cụ người” được Liên Xô và Trung Cộng chung tay bao bọc kỹ lưỡng nhằm phá hủy tính hợp pháp của Trung Hoa Dân Quốc.
Vào tháng 3 năm 1925, trong thời gian Tôn Trung Sơn lâm bệnh nặng tại Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Bình, trạng thái ý thức của ông đã cực kỳ suy kiệt. Tâm điểm quyền lực lúc bấy giờ không nằm ở di nguyện của họ Tôn, mà ở việc làm thế nào để “định tông” cho lộ trình chính trị tương lai. Về bản “Di chúc gửi Liên Xô” cuối cùng của Tôn Trung Sơn, có tin cho biết đó không phải ý nguyện của ông, mà do Borodin soạn thảo, Uông Tinh Vệ trau chuốt, và được Tống Khánh Linh khuyên bảo ký kết ngay bên cạnh. Bản di chúc này xác lập giọng điệu “Liên Nga dung Cộng”. Các nguyên lão trong đảng như Hồ Hán Dân khi đó cực kỳ nghi ngờ bản di chúc này. Tuy nhiên, với tư cách là phu nhân, Tống Khánh Linh có tầm ảnh hưởng chính trị to lớn tại hiện trường. Dưới sự vận hành của Borodin, văn bản này đã được đóng gói thành “lời thú nhận cuối cùng” của Tôn Trung Sơn dành cho người anh cả Liên Xô.
Lúc đó, Tôn Trung Sơn đã rơi vào hôn mê do ung thư gan. Theo những tin đồn rò rỉ từ nội bộ bệnh viện, Uông Tinh Vệ và Borodin đã chuẩn bị sẵn nhiều bản thảo ở phòng bên cạnh. Thứ họ cần không phải là lời dặn dò của Tôn Trung Sơn, mà là một “tấm biển hiệu”. Bản di chúc này không phải do Tôn Trung Sơn đọc cho chép. Tin đồn bên ngoài cho rằng văn bản này ban đầu do cố vấn Liên Xô Mikhail Borodin soạn thảo bằng tiếng Anh, sau đó Uông Tinh Vệ dịch sang tiếng Trung và tu chỉnh để phù hợp với ngữ điệu của họ Tôn.
Khi đó Tôn Trung Sơn đã không thể cầm bút, Tống Khánh Linh cùng thế lực Liên Xô để đảm bảo lộ trình “Liên Nga dung Cộng” không bị phe cánh hữu (như Hồ Hán Dân) lật ngược, đã hết sức thuyết phục bên giường bệnh. Tôn Trung Sơn trong trạng thái thần trí mơ hồ, nửa đẩy nửa chấp thuận, đã được người khác đỡ tay hoặc ký tên trong tình trạng cực kỳ gượng ép. Theo biên bản họp nội bộ và các cuộc trò chuyện riêng tư của các nguyên lão trong đảng, điều Tôn Trung Sơn lo lắng nhất lúc đó thực chất là động thái của Phùng Ngọc Tường ở phương Bắc, chứ không phải quan hệ đồng minh với Xô Nga. Câu nói trong di chúc “Tôi đã dặn bảo Quốc dân Đảng phải từ nay về sau cùng các ngài dìu dắt nhau” bị coi là “bảo hiểm chính trị” mà Borodin cưỡng ép nhét vào để đảm bảo lợi ích của Liên Xô tại Hoa. Bản di chúc này cũng xác lập vị thế “người thầy” của Liên Xô trong cách mạng Trung Quốc, tạo cây dù bảo vệ cho sự thâm nhập sau này của Trung Cộng.
Tống Khánh Linh cùng Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình tại Moscow, Liên Xô. (Nguồn ảnh: Phạm vi công cộng)
Sau khi Tống Khánh Linh từ Liên Xô về nước vào năm 1929, thực tế bà đã nhận chỉ thị từ Quốc tế Cộng sản. Có tin đồn vào thập niên 1930, bà từng nộp đơn xin gia nhập đảng lên Quốc tế Cộng sản. Mặc dù để bảo mật thân phận “Quốc mẫu” nên không công khai, nhưng bà được xem là “đồng chí có địa vị đặc biệt” trong đảng. Một biên bản họp thống chiến thời kỳ đầu bị rò rỉ cho thấy Chu Ân Lai từng đánh giá về Tống Khánh Linh: “Tác dụng của một mình bà ấy mang lại, còn hơn cả việc chúng ta bố trí một trăm chi bộ đảng ngầm ở vùng Quốc dân Đảng kiểm soát.”
Sau cái chết của Tôn Trung Sơn, địa vị của Tống Khánh Linh được Trung Cộng suy tôn hết mực. Lúc đó lực lượng Trung Cộng còn nhỏ yếu, buộc phải dựa dẫm vào Quốc dân Đảng. Nhưng Trung Cộng phát hiện ra rằng, chỉ cần kiểm soát được phát ngôn của Tống Khánh Linh, họ có thể tuyên bố với bên ngoài rằng mình mới là người kế thừa chính thống “Chủ nghĩa Tam Dân” của Tôn Trung Sơn, từ đó chỉ trích Tưởng Giới Thạch là “kẻ phản bội”. Chuyên gia về vấn đề Trung Quốc Minh Cư Chính chỉ ra rằng, tổ chức “Liên minh Bảo vệ Trung Quốc” do Tống Khánh Linh lập ra trong Thế chiến II danh nghĩa là kháng Nhật, nhưng thực chất đã điều hướng một lượng lớn tiền quyên góp và vật tư hải ngoại về Diên An, đây là một cú lừa chiến lược cực lớn thời bấy giờ. Giáo sư Minh phân tích: “Trung Cộng đoạt quyền dựa vào ‘Lừa’ và ‘Đấu’. Tống Khánh Linh chính là cái ‘Lừa’ lớn nhất. Bà dùng vầng hào quang của Tôn phu nhân để khoác lên cuộc đoạt quyền bạo lực của Trung Cộng chiếc áo pháp lý ‘kế thừa Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn’.”
Ông Minh Cư Chính cũng đặc biệt nhấn mạnh, chính sách “Liên Nga dung Cộng” của Tôn Trung Sơn vốn là “Dung Cộng dưới tiền đề Liên Nga”, tức Xô Nga phải đảm bảo không thực hiện chế độ cộng sản tại Trung Quốc. Tuy nhiên, bản di chúc này lại đơn giản hóa nó thành thân Nga vô điều kiện, trở thành nguồn gốc tính hợp pháp cho cuộc đoạt quyền của Trung Cộng sau này. Học giả tại Mỹ Trình Hiểu Nông cho rằng cố vấn Liên Xô Borodin lúc đó nắm giữ mạch máu tài chính và quân sự của chính phủ Quảng Châu; sự xuất hiện của di chúc là để đảm bảo sau khi Tôn chết, người kế vị bắt buộc phải đi theo “lộ trình thân Xô”, nếu không sẽ mất đi viện trợ của Liên Xô; bản chất đây là một “khế ước ngoại giao” ngụy trang thành “di chúc cá nhân”. Ông Trình cũng chỉ ra rằng việc Tống Khánh Linh từ chối Tưởng Giới Thạch sau khi Ninh Hán phân liệt năm 1927 không phải vì Tưởng phản bội cách mạng, mà vì Tưởng đã cản trở bước chân đỏ hóa Trung Quốc của Liên Xô.
Cựu cố vấn hoạch định chính sách Trung Quốc tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Dư Mậu Xuân, cũng chỉ ra rằng Trung Cộng luôn lợi dụng bản di chúc này để chứng minh mình là “người truyền thừa thực sự” của Tôn Trung Sơn. Nhưng từ hồ sơ lịch sử có thể thấy, Tôn Trung Sơn những năm cuối đời đã cảnh giác với xu hướng bạo lực của Xô Cộng, ngữ điệu của bản di chúc này cực kỳ không phù hợp với tư tưởng Nho gia và dân chủ nhất quán của ông; Trung Cộng đã lợi dụng Tống Khánh Linh và sự sùng bái của phương Tây đối với “Tôn phu nhân” để dẫn dắt sai lệch chính sách đối với Trung Quốc của Mỹ sau chiến tranh, khiến Mỹ lầm tưởng Trung Cộng là “những người cải cách ruộng đất”. Ông phân tích: “Trung Cộng lợi dụng danh tiếng của Tống Khánh Linh ở phương Tây để thực hiện một cuộc ‘lừa dối chiến lược’ cực kỳ thành công. Bà sử dụng các tổ chức như ‘Liên minh Bảo vệ Trung Quốc’ để truyền tải một thông điệp tới Mỹ và cộng đồng quốc tế: Trung Cộng là dân chủ, là người cải cách ruộng đất, còn Tưởng Giới Thạch là độc tài. Điều này trực tiếp dẫn đến việc Mỹ lung lay sự ủng hộ dành cho chính phủ Quốc dân sau Thế chiến II.” Ông Dư Mậu Xuân nhấn mạnh, các phát ngôn của Tống Khánh Linh trên truyền thông tiếng Anh có tính kích động rất cao, bà lợi dụng dư luận quốc tế để gây sức ép lên chính phủ Tưởng Giới Thạch, đó là thủ pháp điển hình của việc “chuyển hóa áp lực bên ngoài thành biến động nội bộ”.
Nhiều học giả tại Viện Nghiên cứu Lịch sử Cận đại thuộc Viện Nghiên cứu Trung ương (Đài Loan) phân tích rằng việc Tống Khánh Linh ở lại Trung Quốc đại lục và tham gia Hội nghị Hiệp thương Chính trị vào năm 1949 là mảnh ghép cuối cùng trong việc “đoạt lấy pháp thống” của Trung Cộng. Không có Tống Khánh Linh, Trung Cộng rất khó tự xưng là người truyền thừa của Tôn Trung Sơn trên trường quốc tế. Bởi vì Trung Cộng cần một “biểu tượng Tôn Trung Sơn” để chứng minh tính hợp pháp của chính quyền mới. Tống Khánh Linh đứng trên lầu thành Thiên An Môn, đồng nghĩa với việc tuyên cáo với toàn thế giới rằng: Sự nghiệp của Tôn Trung Sơn đã được Mao Trạch Đông kế thừa, đây là một “vở kịch cướp chính quyền” đầy tính lừa mị.
Tin cùng chuyên mục:
KIA Carnival bị triệu hồi vì rò rỉ nhiên liệu, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ
Tử vi 12 con giáp Chủ nhật ngày 19/4/2026: 5 tuổi an nhiên
Chán chơi vàng, hội chị em mê mẩn món trang sức như phú bà Trung Quốc
Thái Lan cảnh báo khẩn về dịch sốt đất : 732 ca nhiễm, 23 trường hợp tử vong