Thời Ngạn (không rõ năm sinh, mất khoảng năm 1107), tự Bang Mỹ, người Khai Phong, Hà Nam. Ông từng là một đại thần quan trọng thời Bắc Tống. Từ nhỏ, Thời Ngạn đã cần cù hiếu học, không biết mệt mỏi. Năm Nguyên Phong thứ hai đời Tống Thần Tông (năm 1079), ông thi đỗ Trạng nguyên và được bổ nhiệm làm Phán quan Dĩnh Châu. Sau đó, ông vào Bí thư tỉnh giữ chức Hiệu thư lang và dần thăng tiến lên Tập hiền viện Hiệu lý. Trong những năm Thiệu Thánh (1094—1098), ông được điều động làm Tả ty Viên ngoại lang.
Sau khi vua Huy Tông lên ngôi (năm 1101), Thời Ngạn được triệu vào triều giữ chức Lại bộ Viên ngoại lang, thăng làm Khởi cư xá nhân, sau lại đổi thành Thái thường thiếu khanh. Ông từng lấy thân phận Trực Long Đồ các đảm nhiệm Hà Đông chuyển vận sứ, phụ trách chính sự tại Quảng Châu và được gia phong Tập hiền điện Tu soạn. Tuy nhiên, khi chưa kịp nhậm chức tại Quảng Châu, ông đã được bổ nhiệm làm Lại bộ Thị lang, sau chuyển sang Hộ bộ và giữ chức Khai Phong phủ doãn. Lúc bấy giờ, kinh đô Khai Phong đang khốn khổ vì nạn trộm cướp hoành hành, trị an hỗn loạn. Sau khi nhậm chức, Thời Ngạn đã tăng cường quản lý an ninh, giúp các phường ấp trong thành Khai Phong khôi phục sự yên bình, trộm cướp biến mất, nhà tù cũng vì thế mà trống không. Vài tháng sau, ông được điều làm Công bộ Thượng thư, rồi thăng lên Lại bộ. Không lâu sau, Thời Ngạn qua đời khi đang tại chức.
Theo ghi chép trong cuốn “Mặc ký” của Vương Chất thời Tống: Sau khi trúng Trạng nguyên, Thời Ngạn từng có thời gian hỗ trợ quản lý việc vận tải đường thủy (tào vận) ở Giang Đông. Một ngày nọ, ông đi thuyền tuần tra trên sông lớn, vì gặp gió mạnh nên đã neo thuyền dưới chân một ngọn núi nhỏ bên bờ sông, rồi cùng hai ba người đi cùng lên núi tản bộ. Ngọn núi rất dốc, họ phải rẽ cỏ mở lối để đi lên đỉnh.
Khi vòng ra phía sau núi, họ bỗng phát hiện trên đỉnh núi có một ngôi chùa nhỏ, và rất nhanh sau đó có một vị lão tăng từ trong chùa đi ra đón tiếp, hỏi rằng: “Người đến chẳng hay có phải là Thời Trạng nguyên chăng?” Thời Ngạn vô cùng kinh ngạc, thầm nghĩ: Bản thân không mang theo tùy tùng, đến đây cũng là chuyện tình cờ, nơi này lại hẻo lánh như vậy, đời này ông cũng chưa từng đặt chân tới, làm sao lão tăng lại biết mình sẽ đến đây?
Lão tăng nhận thấy vẻ kinh nghi hoặc của ông, bèn giải thích: “Có người đã viết chữ trên bức tường phía sau điện thờ của ngôi chùa này, nói rằng: ‘Năm mươi, tháng nọ, ngày kia, Thời Trạng nguyên đến thăm chùa.’ Tôi đã ghi nhớ việc này rất nhiều năm rồi. Hôm nay đúng là thời điểm ghi trên đó, nên tôi đã dậy từ sớm và đợi chờ bấy lâu.” Thời Ngạn lúc này mới thành thật thú nhận mình chính là người mà vị tăng đang đợi, nhưng trong lòng vẫn có phần bán tín bán nghi.
Họ cùng nhau đi lên, đến phía sau điện thờ, sau khi lau sạch bụi bặm trên tường, quả nhiên phát hiện trên đó có dòng chữ đề, nội dung hoàn toàn trùng khớp với lời lão tăng nói. Phía dưới còn có thời gian đề chữ, đó là thời điểm trước khi Thời Ngạn ra đời. Nhìn sang bên cạnh còn có dòng chữ nhỏ: “Mười ba năm sau, quan kết thúc ở tứ phẩm.” Thời Ngạn ghi nhớ toàn bộ nội dung này rồi trở về thuyền. Sau này, ông thường kể với người khác về những dòng chữ bí ẩn không rõ nguồn gốc đó.
Đến năm Đại Quan thứ nhất (năm 1107), Thời Ngạn qua đời tại kinh sư với chức danh Lại bộ Thượng thư, chính là hàm Chính tứ phẩm, và thời gian kể từ ngày ông nhìn thấy dòng chữ trên bức tường chùa cho đến lúc mất đúng tròn mười ba năm.
Có thể thấy, danh lợi phúc lộc của một đời người thực sự đã được định sẵn từ trước khi người đó sinh ra, nếu không làm sao giải thích được việc trên tường sau điện thờ lại ghi rõ: “Năm nọ, tháng nọ, ngày kia, Thời Trạng nguyên đến chùa”? Và làm sao có thể dự toán một cách thần kỳ rằng kể từ ngày đó Thời Ngạn còn bao nhiêu năm tuổi thọ? Hơn nữa, thời gian đề chữ còn có trước cả khi Thời Ngạn chào đời.
Việc Thời Ngạn trúng Trạng nguyên đúng là ý trời đã định, còn một câu chuyện dưới đây có thể dùng làm minh chứng: Thời Tống, ở Kim Lăng có một vị hòa thượng rất thích uống rượu, giả vờ điên loạn, ông thường nói về phúc họa cho người khác và sau này nghiệm lại đều rất chính xác. Mọi người gọi ông là “Hòa thượng điên”.
Danh thần Bắc Tống là Trần Quán (năm 1057—1124, tự Oánh Trung, một vị quan nổi tiếng cương trực, dám can gián) khi chưa đỗ đạt đã nghe danh Hòa thượng điên, bèn tới thăm và hỏi: “Tôi có thể đỗ Trạng nguyên không?” Vị hòa thượng liền lắc đầu nói: “Vô Thời khả đắc” (Không có ‘Thời’ thì không đỗ được / Không lúc nào đỗ được). Trần Quán lúc đó không hiểu ý nghĩa câu nói, bèn lặp lại câu hỏi: “Chẳng lẽ tôi tuyệt đối không đỗ được sao?” Hòa thượng vẫn trả lời như cũ. Ông Trần Quán đành thất vọng ra về, cứ ngỡ kỳ thi này chắc chắn hỏng.
Nào ngờ năm sau trong kỳ thi Đình, Trần Quán đỗ hạng nhì là Thám hoa, còn người đỗ hạng nhất (Trạng nguyên) chính là Thời Ngạn. Lúc này ông mới hiểu ý nghĩa của câu “Vô Thời khả đắc” là: “Nếu không có người họ Thời (Thời Ngạn) xếp ở phía trước, thì ông đã có thể giành được vị trí Trạng nguyên rồi!” Có thể thấy “Vô Thời khả đắc” cũng là một câu sấm ngữ, dùng hình thức ẩn dụ để dự báo cát hung họa phúc của một người trong tương lai, và sự việc sau đó thường ứng nghiệm với lời tiên tri.
Nguồn tư liệu: “Mặc ký”, “Xuân Chử kỷ văn”
Theo Epoch Times
Văn hóa#Cổ #Đạo #Nhân #SinhKỳ #ngộ #sau #khi #trúng #Trạng #nguyên #của #đại #thần #Thời #Ngạn #thời #Bắc #Tống1776508868


Tin cùng chuyên mục:
Chuyện gì vậy!? 6 Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị cũng không cản nổi Giang Trạch Dân
Hàng chục người ở Nghệ An nghi ngộ độc sau khi ăn bánh mì
Đúng 9h30 ngày mai, Chủ Nhật 19/4/2026, 3 con giáp tay trái hứng vàng, tay phải gom bạc, trúng số độc đắc dễ dàng
Tại sao phải chuẩn bị di thư trước khi được mời vào khách sạn Kinh Tây?