Bàn về việc giữ mạng sống, tại sao người nghèo lại nhiều hơn người giàu? Dự ngôn của Lưu Bá Ôn ẩn chứa thiên cơ

Bàn về việc giữ mạng sống, tại sao người nghèo lại nhiều hơn người giàu? Dự ngôn của Lưu Bá Ôn ẩn chứa thiên cơ缩略图


Hiện nay, hoàn cảnh mà nhân loại đang đối mặt tiềm ẩn những nguy nan to lớn, cũng chẳng trách Lưu Bá Ôn trong 《Thôi Bối Đồ》 có nói “Kẻ nghèo một vạn lưu một ngàn, kẻ giàu một vạn lưu hai ba”, thế nhân nếu không hồi tâm chuyển ý, thì ngày tàn đã ở ngay trước mắt. Con người sống trong môi trường xã hội như vậy quả thực rất khó để cứu độ.

Chính văn 【Bí truyền Thiêu Bính Ca】

  • Đế hỏi: Đạo thời mạt hậu do ai truyền?
  • Ôn đáp: Có thơ làm chứng: Chẳng giống tăng lại chẳng giống đạo, đầu đội mũ lông cừu bốn lạng, chân Phật không ở trong chùa viện, Ngài chưởng quản Di Lặc Nguyên Đầu giáo.
  • Đế hỏi: Di Lặc giáng phàm ở nơi nao?
  • Ôn đáp: Xin nghe thần tỏ bày: Tương lai giáo chủ giáng hạ phàm, chẳng rớt vào phủ tể tướng hay quan viên, chẳng vào hoàng cung làm thái tử, chẳng ở cửa Phật hay viện Đạo, giáng sinh nơi nhà tranh cửa hàn, từ Nam Yên Bắc Triệu rải vầng kim quang.
  • Đế hỏi: Thời nhà Thanh tận, khanh hãy nói rõ ràng, để cho người đời sau xem.
  • Ôn đáp: Không dám nói hết lời. Hải vận chưa mở ấy Đại Thanh, mở hải vận rồi động đao binh, nếu mà vận vận lại mở lại, ắt là Lão Thủy trở về kinh.
  • Đế hỏi: Lão Thủy có ý gì?
  • Ôn đáp: Có có có. Chúng đạo hội hạ dẫn dắt tu hành, lớn biến nhỏ, già hóa trẻ, hòa thượng ngược lại muốn giai nhân, thật nực cười lại thật nực cười, nữ gả tăng nhân thời đã đến.
  • Đế hỏi: Vì sao khanh lại nói đến chữ Đạo?
  • Ôn đáp: Đến những năm tháng thời mạt hậu, vạn Tổ xuống trần, ngàn Phật giáng phàm, tinh tú khắp trời, quần chân A Hàm, bồ tát đầy trời, đều khó thoát khỏi kiếp nạn này. Bèn là lúc Vị Lai Phật hạ giới truyền đạo, chư Phật chư Tổ trên trời dưới đất, nếu không gặp được con đường chỉ vàng thì khó tránh khỏi kiếp nạn này, bị tước mất quả vị, mạt hậu phong kín tám mươi mốt kiếp.

Giải thích thuật ngữ

Trước khi phân tích bài dự ngôn này, để mọi người dễ hiểu, chúng ta cần phải giải thích một số khái niệm và thuật ngữ trong đó.

  1. Mạt hậu Đạo: Chỉ đại đạo độ nhân trong thời kỳ cuối cùng của mạt kiếp. Xét từ trình tự thời gian trong cuộc vấn đáp, điều này hẳn là chỉ hiện tại. Trong Phật giáo có cách nói “mạt pháp” và “mạt kiếp”. “Pháp” chỉ tâm pháp đạo đức. Mạt pháp mạt kiếp nói chung chỉ việc hệ thống đạo đức truyền thống hiện tại bị phủ định, con người không còn sự ước thúc của tâm pháp đạo đức truyền thống, mất đi tiêu chuẩn làm người truyền thống, nhân tâm bắt đầu ma biến đọa lạc. Thượng Thiên đã không còn coi con người là con người nữa và đang chuẩn bị đào thải. Vào lúc này, các tôn giáo truyền thống đã vô năng lực trong việc cứu độ nhân loại hiện tại, chỉ có Đại Đạo mang pháp lực to lớn hơn mới có thể đảm đương được việc cứu độ nhân loại thập ác câu toàn ngày nay.
  2. Nguyên Đầu Giáo: “Nguyên” nghĩa là khởi đầu. Chỉ cội nguồn của vạn pháp.
  3. Yên Nam Triệu Bắc: “Yên” chỉ Bắc Kinh; “Triệu” chỉ Hàm Đan. Nói chung là chỉ khu vực Bắc Kinh.
  4. Thượng mạt hậu thời niên: “Thượng mạt hậu” về cơ bản đồng nghĩa với “Mạt hậu” ở mục (1); “thời niên” chỉ khoảng thời gian tính bằng năm.
  5. Hạ giới, giáng phàm: Có ý chỉ Thần chuyển sinh thành người.
  6. Khó thoát kiếp này, khó tránh kiếp này: Vế trước chỉ Phật, Đạo, Thần gặp nạn không thể tự cứu; vế sau chỉ việc sau khi hạ thế chuyển sinh thành người, nếu không được Vị Lai Phật cứu độ thì chỉ có thể bị đào thải.

Phân tích dự ngôn

Phần trọng điểm của bài dự ngôn này nằm ở câu hỏi thứ năm, nếu có thể thấu hiểu nội dung trong đó thì sẽ mang ý nghĩa to lớn đối với những người đang sống trong xã hội hiện thực ngày nay. Bởi vì phần này có mối quan hệ trực tiếp với chúng ta. Vì vậy, trước tiên hãy phân tích từ phần này.

  • Đế hỏi:Vì sao khanh lại nói đến chữ Đạo?
    • Đạo: Ở đây chỉ tu hành đại đạo do Vị Lai Phật truyền. Cựu vũ trụ thuận theo quá trình “Thành, Trụ, Hoại, Diệt” đang đối mặt với sự giải thể, các vị Phật, Đạo, Thần trong cựu vũ trụ cũng khó tránh khỏi kiếp nạn, cần phải hạ thế để tu hành lại trong đại đạo do Vị Lai Phật truyền, chứng ngộ lại quả vị mới của chính mình.
  • Ôn đáp:Đến những năm tháng thời mạt hậu, vạn Tổ xuống trần, ngàn Phật giáng phàm, tinh tú khắp trời, quần chân A Hàm, bồ tát đầy trời, đều khó thoát khỏi kiếp nạn này. Bèn là lúc Vị Lai Phật hạ giới truyền đạo, chư Phật chư Tổ trên trời dưới đất, nếu không gặp được con đường chỉ vàng thì khó tránh khỏi kiếp nạn này, bị tước mất quả vị, mạt hậu phong kín tám mươi mốt kiếp.
    • Thượng mạt hậu thời niên: Xét theo trình tự thời gian ở câu hỏi thứ ba (Đầu nhà Thanh —— Cuối nhà Thanh —— Cải cách mở cửa —— Lão Thủy nắm quyền), thì hẳn là chỉ khoảng thời gian trước đó, tức là sau cơn sốt khí công vào thập niên 80 và trước khi Vị Lai Phật xuất sơn truyền đạo. Trong khoảng thời gian này, các vị Phật, chân nhân, la hán, bồ tát trên trời v.v. đều lần lượt hạ thế chuyển sinh thành người đời, chờ đợi sự cứu độ của Vị Lai Phật.

Từ đoạn văn này, phải chăng chúng ta nên ý thức được một câu hỏi: Mình là do ai chuyển sinh? Phải chăng cũng đồng nghĩa với nguy cơ khó tránh khỏi kiếp nạn này? Điều này chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa. Tính đến hiện tại, chúng ta quả thực đang phải đối mặt với vấn đề như vậy, hơn nữa còn vô cùng nguy cấp. Vậy phải làm sao? Việc tìm kiếm, nhận biết Vị Lai Phật đã trở thành nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của chúng ta.

Nỗi khó khăn khi được nghe Phật pháp

Vị Lai Phật có thể dễ dàng được tìm thấy không? Chắc chắn là không. Mặc dù Lưu Bá Ôn trong cuộc vấn đáp đã cung cấp cho chúng ta đầy đủ thông tin, nhưng trong dòng chảy dài của lịch sử, vẫn có những quan ải gian nan cản trở bạn nhận biết Vị Lai Phật, điều này trong kinh Phật đã nói rõ từ lâu: Được thân người đã khó, sinh ra ở Trung Hoa lại càng khó, được nghe Phật pháp là khó nhất. Những cái khó này chủ yếu biểu hiện ở:

  1. Bị nhồi nhét những quan niệm về thuyết vô thần và khoa học.
  2. Sự lừa dối bằng những lời dối trá rợp trời dậy đất.
  3. Tạo ra nhịp sống hối hả, liều mạng vì tiền, v.v.

Những cái khó này giáng xuống những người dân thường, có thể hình dung được, sẽ gây ra trở ngại lớn đến nhường nào cho chúng ta trong việc nhận biết Vị Lai Phật. Dưới đây sẽ phân tích từng điểm một.

Người Trung Quốc hiện nay hầu hết đều là những người theo thuyết vô thần, đó là bởi vì sau khi Đảng Cộng sản cai trị Trung Quốc đã khiến tư tưởng của người Trung Quốc xảy ra một cuộc cách mạng triệt để. Đại Cách mạng Văn hóa đã khiến văn hóa truyền thống Trung Hoa bị phá hoại mạnh mẽ, tư tưởng kính Trời tín Thần bị quét sạch, thay vào đó là tư tưởng văn hóa đảng vô thần. Từ nhỏ chúng ta đã đắm chìm trong bầu không khí vô thần do Đảng Cộng sản tạo ra, bị nhồi nhét toàn những thứ gọi là tư tưởng khoa học, “bạn phải tin vào khoa học” đã trở thành câu cửa miệng của con người khi phủ định văn hóa truyền thống.

Lừa gạt dối trá là thủ đoạn của ma quỷ. Trích đoạn “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh” trong cuốn tiểu thuyết 《Tây Du Ký》 rất đáng để suy ngẫm: Bạch Cốt Tinh ba lần biến hóa lừa gạt Đường Tăng, Đường Tăng mắt trần thai phàm, khó phân thật giả, nếu không có Tôn Ngộ Không liều mạng cứu giúp thì suýt chút nữa đã mất mạng. Nhìn từ lịch sử, khi Chúa Jesus truyền đạo, Hoàng đế La Mã Nero lúc bấy giờ đã ra lệnh cho thuộc hạ phóng hỏa đốt thành cổ La Mã rồi đổ lỗi cho các tín đồ Cơ Đốc, vu khống họ loạn luân và uống máu trẻ sơ sinh. Lời dối trá đã lừa gạt người dân thời bấy giờ, khiến họ nảy sinh lòng thù hận đối với tín đồ Cơ Đốc, kết quả là bốn trận ôn dịch đã hủy diệt tất cả những kẻ thù hận Thần. Dù là trong tiểu thuyết hay trong lịch sử, tác dụng mà ma quỷ gây ra đều chung một mục đích: tạo rào cản cho Thần trong việc cứu độ chúng sinh. Tạo chướng ngại cho chúng sinh được đắc cứu.

Không thể phủ nhận rằng, tiền bạc là trên hết đã trở thành nhận thức chung của nhân loại ngày nay, nhịp sống hối hả bận rộn vì tiền đã trở thành trạng thái bình thường của con người trong xã hội hiện đại, ngoại trừ những việc liên quan đến tiền bạc ra thì những việc khác đều không khơi dậy được hứng thú của mọi người.

Tình cảnh mà con người hiện nay đang đối mặt chính là một hoàn cảnh như vậy, cũng chẳng trách Lưu Bá Ôn trong 《Thôi Bối Đồ》 nói “Kẻ nghèo một vạn lưu một ngàn, kẻ giàu một vạn lưu hai ba”, thế nhân nếu không hồi tâm chuyển ý, thì ngày tàn đã ở ngay trước mắt. Con người sống trong môi trường xã hội như vậy quả thực rất khó để cứu độ.

Kế sách tránh khỏi kiếp nạn

Đọc đến đây, có người sẽ nảy sinh một cảm giác nguy cơ, có người có thể không cho là đúng. Dù thế nào đi nữa, thì hãy cùng phân tích những cách để thoát khỏi kiếp nạn:

  • Một là, gạt bỏ tư tưởng vô thần luận, dùng giá trị quan của văn hóa truyền thống để cân nhắc thị phi thiện ác, giải quyết một cách lý trí mọi sự việc gặp phải xung quanh mình, giữ vững nguyên tắc “nghe nhiều phía thì sáng, nghe một chiều thì tối”.
  • Hai là, lời dối trá lặp lại ngàn lần thì vẫn là lời dối trá, dối trá mãi mãi không chịu được sự xem xét kỹ lưỡng, cuối cùng sẽ xuất hiện vô số sơ hở, không chịu đựng được sự kiểm chứng của thời gian. Đặc điểm của ma quỷ là dối trá liên miên, tà ác, bạo ngược; đặc điểm của Thần Phật là không nói cuống ngữ, từ bi, nhẫn nhường. Chỉ cần bạn chú tâm nghiền ngẫm, thật giả tự khắc sẽ rõ ràng trong nháy mắt.
  • Ba là, Trung Quốc có di sản văn hóa Thần truyền 5.000 năm, hầu như triều đại nào cũng có những dự ngôn chính xác được lưu lại. Ví dụ như: 《Thôi Bối Đồ》, 《Mã Tiền Khóa》, 《Mai Hoa Thi》, 《Dự ngôn của thiền sư Bộ Hư》 v.v. Những dự ngôn này có thể làm bằng chứng bổ sung cho nhau, giúp chúng ta có thể bình tĩnh đối mặt với những sự kiện lớn sắp xảy ra, đóng vai trò khai sáng sự ngu muội và chỉ điểm bến mê. 《Bí truyền Thiêu Bính Ca》 của Lưu Bá Ôn lại càng chỉ rõ ràng hơn về lai lịch của thế nhân, tình cảnh phải đối mặt và phương pháp làm thế nào để được cứu rỗi, giúp chúng ta có thể thong dong điềm tĩnh, nhẹ nhàng đối phó trước khi tai kiếp giáng xuống.

Dưới đây chúng ta hãy cùng phân tích một chút:

Đế hỏi: Mạt hậu đạo do ai truyền? (Hoàng đế Chu Nguyên Chương hỏi: Đại đạo phổ độ chúng sinh thời kỳ mạt kiếp do ai truyền?) Ôn đáp: Có thơ làm chứng. Chẳng giống tăng lại chẳng giống đạo… Ngài chưởng quản Di Lặc Nguyên Đầu giáo. (Quân sư Lưu Bá Ôn trả lời rằng: Không giống hòa thượng cũng không giống đạo nhân, trang phục ăn mặc giống như người bình thường, nhìn bề ngoài Ngài chỉ là một người bình thường nhưng lại thần thông quảng đại, hành tung của Ngài không ở trong chùa chiền mà là sống trong quần chúng xã hội, là người chưởng quản đại đạo căn bản của vũ trụ mang danh xưng Phật Di Lặc chuyển thế đến nhân gian.)

Đế hỏi: Di Lặc giáng sinh ở nơi nao? (Hoàng đế họ Chu hỏi: Di Lặc chuyển sinh ở nơi nào trên thế gian?) Ôn đáp: Xin nghe thần tỏ bày. Tương lai giáo chủ giáng hạ phàm… Giáng sinh nơi nhà tranh cửa hàn, từ Nam Yên Bắc Triệu rải vầng kim quang. (Lưu Bá Ôn nói: Nơi Di Lặc chuyển sinh không ở trong nhà tể tướng quan viên, cũng không ở đại nội hoàng cung, càng không ở trong chùa viện đạo quán, mà chỉ chuyển sinh vào trong nhà của bách tính bình dân thông thường. Địa điểm truyền đạo chủ yếu là ở khu vực Bắc Kinh.)

Từ hai lần vấn đáp giữa Hoàng đế và vị quân sư này, chúng ta có thể biết rất rõ hai đặc điểm của Di Lặc khi chuyển sinh ở cõi người:

  1. Về trang phục, ăn mặc giống người bình thường trong xã hội hiện nay.
  2. Thân phận bình dân.

Vậy thì từ câu hỏi tiếp theo, chúng ta có thể biết rất rõ ràng thời gian mà Di Lặc truyền đạo.

Đế hỏi: Thời nhà Thanh tận, khanh hãy nói rõ ràng, để cho người đời sau xem. (Hoàng đế họ Chu nói: Sau triều đại nhà Thanh thì ra sao, khanh hãy nói rõ hơn một chút, để thuận tiện cho người đời sau căn cứ theo lời chỉ điểm của khanh mà tính toán sớm cho thỏa đáng.) Ôn đáp: Không dám nói hết lời. Hải vận chưa mở ấy Đại Thanh… Nếu mà vận vận lại mở lại, ắt là Lão Thủy trở về kinh. (Lưu Bá Ôn nói: Bế quan tỏa cảng hải vận chưa mở là thời đầu nhà Thanh, mở hải vận rồi khói lửa chiến tranh không dứt là cuối nhà Thanh, vận vận lại mở lại, mở cửa toàn diện là thời kỳ cải cách mở cửa toàn diện vào những năm 80, Lão Thủy về kinh là thời kỳ Giang Trạch Dân nắm quyền.)

Khoảng thời gian được chỉ rõ trong ba câu đầu của bốn câu thơ này hẳn là điều không thể nghi ngờ, chỉ có từ “Lão Thủy” ở câu thứ tư là hơi khó hiểu một chút. Chúng ta biết rằng ý nghĩa của hai câu ba và bốn là liền mạch với nhau, Lão Thủy nắm quyền hẳn là vào thời kỳ cải cách mở cửa, mà trong bốn vị lãnh đạo sau thời cải cách mở cửa, chỉ có Giang Trạch Dân là trong tên có hai bộ “Thủy” (nước), cho nên Lão Thủy được chỉ là Giang Trạch Dân thì khá là phù hợp. Đã như vậy, Lưu Bá Ôn đã đẩy điểm cuối của mốc thời gian đến thời Lão Thủy nắm quyền, thế thì chúng ta có thể khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, thời gian Di Lặc truyền đạo nhất định là bắt đầu từ thời kỳ Lão Thủy nắm quyền.

Chỉ biết thời gian đại thể mà Di Lặc truyền đạo, chúng ta vẫn chưa thể dựa vào đó để đoạn định Di Lặc là ai. Để đáp ứng yêu cầu của Hoàng đế là nói rõ ràng hơn một chút, Lưu Bá Ôn nương theo một câu hỏi nữa của Hoàng đế, đã dùng vài lời ngắn gọn diễn đạt vô cùng sát thực về bối cảnh Di Lặc truyền đạo cũng như đặc điểm của đại đạo được truyền.

Đế hỏi: Lão Thủy có ý gì? (Hoàng đế họ Chu hỏi: Lão Thủy còn có điều gì đáng bàn chăng? Hoặc có thể hiểu là sau khi Lão Thủy nắm quyền thì có tình huống gì xảy ra?) Ôn đáp: Có có có. Chúng đạo hội hạ dẫn dắt tu hành, lớn biến nhỏ, già hóa trẻ, hòa thượng ngược lại muốn giai nhân… nữ gả tăng nhân thời đã đến. (Lưu Bá Ôn nói: Đại đạo tu hành do Di Lặc truyền được triển khai trong bối cảnh lớn là chúng đạo hội hạ. Chúng ta đều biết những năm 80, 90 Trung Quốc xuất hiện vô số môn phái khí công, đạt đến cao trào vào cuối những năm 80 đầu những năm 90, cơn sốt khí công đột nhiên bùng nổ này được Lưu Bá Ôn gọi là “chúng đạo hội hạ” (hội tụ các đạo), các môn khí công này chủ yếu với mục đích chữa bệnh khỏe người, hiệu quả rèn luyện sức khỏe phổ biến được người dân đương thời công nhận. Chính trong bối cảnh như vậy, Di Lặc bắt đầu truyền đại đạo tu hành của Ngài. Đặc điểm đại đạo do Ngài truyền là: “lớn biến nhỏ, già hóa trẻ” khiến con người thoái lùi theo hướng trẻ lại, đây là đặc điểm của công pháp tính mệnh song tu. “Hòa thượng ngược lại muốn giai nhân… nữ gả tăng nhân thời đã đến” là nói rằng người ta không cần xuất gia, chỉ cần tu hành ở thế gian là được, có thể sống cuộc sống của người bình thường. Đây là pháp môn không thoát ly thế duyên mà tu thành Như Lai. Là đặc điểm của đại đạo do Vị Lai Phật truyền trong truyền thuyết lịch sử.)

Thông qua những phân tích trên, tóm lược lại, chúng ta biết rằng người truyền đại pháp đại đạo trong thời kỳ mạt kiếp có một số đặc điểm về các khía cạnh như sau:

  1. Ăn mặc và trang phục của người bình thường.
  2. Thân phận bình dân.
  3. Bắt đầu truyền đại pháp đại đạo sau khi cơn sốt khí công nổi lên.
  4. Đặc điểm của đại đạo là không thoát ly thế duyên, tính mệnh song tu.

Theo Vision Times

Câu chuyện lịch sử#Bàn #về #việc #giữ #mạng #sống #tại #sao #người #nghèo #lại #nhiều #hơn #người #giàu #Dự #ngôn #của #Lưu #Bá #Ôn #ẩn #chứa #thiên #cơ1780850457

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *