Lão Tử nói: “Kẻ đắc đạo thì được nhiều người giúp, kẻ thất đạo thì ít người trợ”. Khổng Tử cũng từng giảng: “Dùng đức để trị nước, cũng giống như sao Bắc Đẩu ở đúng vị trí của mình mà các vì sao khác đều chầu về”. Khổng Tử cho rằng “Nhân” không chỉ là sự tu dưỡng thiết yếu của mỗi cá nhân mà còn là nguyên tắc bắt buộc phải tuân theo để trị quốc, bình thiên hạ. Ông còn chỉ rõ: “Ai có thể thực hành năm điều này trong thiên hạ, đó chính là Nhân”. Năm điều đó là: “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ” (Cung kính, khoan dung, giữ chữ tín, cần mẫn, ban ân huệ). Bởi vì “Cung kính thì không bị khinh nhờn, khoan dung thì được lòng người, giữ chữ tín thì được người tin cậy, cần mẫn thì lập được công lao, ban ân huệ thì đủ sức sai khiến người khác”.
Khổng Tử cũng miêu tả một xã hội thể hiện trọn vẹn và đầy đủ tinh thần “Nhân đức” là: “Khi đại Đạo được thực hành, thiên hạ là của chung, tuyển chọn người hiền tài, giảng chữ tín và xây dựng sự hòa mục. Cho nên mọi người không chỉ yêu kính cha mẹ mình, không chỉ yêu thương con cái mình, mà còn khiến người già được chăm sóc đến cuối đời, người khỏe mạnh có đất dụng võ, trẻ nhỏ được nuôi dưỡng trưởng thành, những người góa bụa, côi cút, tàn tật, ốm đau đều được chu cấp… Do đó những mưu mô lừa gạt bị đóng lại mà không thể trỗi dậy, nạn trộm cắp, loạn lạc, giặc giã không dấy lên, cửa ngoài không cần đóng, đó gọi là thế giới Đại Đồng.” Khi lý tưởng “Đại Đồng” này không thể hoàn toàn thực hiện, Khổng Tử lùi lại một bước và đưa ra lý tưởng về xã hội “Tiểu Khang”: “Thành quách, hào rãnh được dùng làm nơi phòng thủ kiên cố, Lễ Nghĩa được lấy làm kỷ cương để chấn chỉnh đạo vua tôi, làm sâu đậm tình cha con, hòa thuận anh em, hòa ấm vợ chồng, thiết lập các chế độ, lập ra ruộng vườn làng mạc… Lấy lòng nhân làm khuôn phép, giảng sự nhường nhịn để dân chúng tuân theo những thường lý… đó gọi là Tiểu Khang.” Đây là một xã hội bước đầu quán triệt tinh thần “Nhân đức”.
Nhìn lại lịch sử Trung Hoa, những bậc minh quân nhân đức không ai là không kính Trời thuận Đạo, thi hành lòng nhân ái, ban ân huệ khắp tám phương, khiến muôn dân an khang, trăm nghề thịnh vượng, văn hóa phát triển, thiên hạ quy thuận, bốn biển ngưỡng mộ. Họ đã thực tiễn hóa xã hội mang tinh thần “Nhân đức” mà Khổng Tử từng miêu tả.
Dưới đây, chúng ta hãy cùng xem xét ba vị minh quân nhân đức tiêu biểu cho các thời kỳ thịnh thế: Hán Văn Đế thời Tây Hán, Đường Thái Tông và Khang Hy thời Thanh.
Cả ba vị hoàng đế này khi kế vị đều ở vào những năm đầu của triều đại, khi quốc gia đang trong thời kỳ trăm việc phế bỏ chờ hưng thịnh. Họ hấp thu bài học vong quốc của các triều đại trước, thi hành nền chính trị nhân đức, đồng thời luôn tự tỉnh thức, lắng nghe và tiếp nhận những lời cảnh báo của Thượng đế.
Lấy “Nhân” làm gốc, luôn nghĩ đến nỗi khổ của bách tính
1. Hán Văn Đế
Lòng nhân đức của Hán Văn Đế được thể hiện ở các phương diện:
- Bãi bỏ luật liên tọa và nhục hình: Văn Đế cho rằng pháp lệnh là chuẩn mực để trị quốc, là công cụ để ngăn chặn bạo hành và hướng con người đến cái thiện. Khi kẻ phạm tội đã bị trừng phạt, không nên liên lụy đến cha mẹ, vợ con và anh em vô tội của họ. Pháp lệnh công bằng thì dân chúng trung hậu, định tội đích đáng thì dân chúng tâm phục.
- Suy bụng ta ra bụng người, cùng dân chung vui: Nhân dịp lập Hoàng hậu, Văn Đế đã ban thưởng cho những người góa bụa, cô độc, không con cái, người già trên 80 tuổi và trẻ mồ côi dưới 9 tuổi trên toàn thiên hạ một lượng vải lụa, gạo và thịt, với mong muốn những người nghèo khổ cũng được hưởng niềm vui.
- Thi ân bố đức, vỗ về chư hầu: Ông ban ân đức cho cả thiên hạ, xoa dịu các chư hầu và các bộ tộc nơi biên ải xa xôi, phong thưởng cho các đại thần có công, khiến trên dưới đều hòa thuận vui vẻ.
- Không làm phiền dân, tiết kiệm tài lực: Tháng 10 năm Văn Đế thứ 2 (năm 178 TCN), ông hạ lệnh cho các Liệt hầu đang ở Tràng An phải trở về vùng đất phong của mình. Một mặt để giảm bớt sự vất vả của bá tánh trong việc cung cấp vận chuyển lương thực, tiết kiệm nhân lực và tài lực; mặt khác để các Liệt hầu có thể trực tiếp dạy dỗ và quản lý dân chúng ở vùng đất phong.
- Coi trọng nông tang, giảm nhẹ thuế má: Ông nhiều lần hạ chiếu coi trọng nông nghiệp, đặt ra các chức vụ Tam lão, Hiếu đễ, Lực điền theo tỷ lệ hộ khẩu và thường xuyên ban thưởng cho họ. Để khuyến khích nông dân sản xuất và giảm gánh nặng cho dân, Văn Đế còn giảm tiền thuê đất, thuế má và sưu dịch. Ngoài ra, ông còn hạ lệnh “mở lệnh cấm đối với núi đầm”, tức là cho phép khai thác núi rừng sông ngòi vốn thuộc sở hữu nhà nước, từ đó thúc đẩy sản xuất nghề phụ của nông dân và sự phát triển của ngành sản xuất muối, sắt – những ngành có quan hệ trọng đại đến quốc kế dân sinh.
2. Đường Thái Tông
Đường Thái Tông là một vị minh quân có đạo khác sau sự sụp đổ của nhà Hán vài trăm năm, cũng đặt nhân đức lên hàng đầu để tế thế an dân. Hiểu rõ đạo lý “được lòng dân thì được thiên hạ”, ngay khi lên ngôi, ông đã lập tức thi hành nhân chính.
- Trị quốc an dân: Ông áp chế quan niệm môn đệ, chỉnh đốn bộ máy quan lại, đề cao lối sống tiết kiệm và giảm nhẹ thuế má. Thái Tông cho rằng người dân làm trộm cướp là do “thuế má nặng nề, quan lại tham lam, đói rét bức bách”, nếu “bỏ sự xa hoa, tiết kiệm chi tiêu, giảm nhẹ sưu thuế, tuyển chọn quan lại liêm khiết, khiến dân có đủ cơm ăn áo mặc thì họ tự nhiên không trộm cướp, cần gì phải dùng hình phạt nặng nề!”. Do đó, ông đã giải tán hơn 3.000 cung nữ để tiết kiệm quốc khố, ngừng nhận vật phẩm cống nạp quý hiếm từ các nơi.
- Coi trọng nông nghiệp: Thái Tông cho rằng “Phàm việc gì cũng phải lấy gốc làm trọng. Quốc gia lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn cái mặc làm gốc. Việc tạo ra cái ăn cái mặc, không được để lỡ thời vụ”. Tháng 2 năm Trinh Quán thứ 5, quan lại định điều động phủ binh làm đội danh dự cho lễ đội mũ của Thái tử, đúng lúc vào mùa cày cấy mùa xuân, Thái Tông liền hạ lệnh dời sang tháng 10. Ông cũng chiêu an những bá tánh lưu vong trở về quê hương sản xuất.
- Cứu tế thiên tai: Vào những năm mất mùa, ông hạ lệnh mở kho lúa cứu trợ. Đầu năm Trinh Quán, vùng Quan Trung, Quan Đông bị hạn hán, sương giá, nạn châu chấu khá nặng. Lấy bài học từ nhà Tùy “không thương xót bá tánh mà chỉ tiếc kho đụn… dẫn đến diệt vong”, Thái Tông cho rằng “người trị quốc phải biết tích lũy trong dân, không phải là làm đầy kho đụn”, bèn hạ lệnh mở kho cứu dân. Ông còn xuất tiền vàng, lụa là từ ngự phủ để chuộc lại những đứa trẻ bị bán đi vì nạn đói, trả về cho cha mẹ chúng.
3. Hoàng đế Khang Hy (Nhà Thanh)
Khang Hy là người đã tạo nên thời kỳ thịnh vượng thứ ba trong lịch sử Trung Hoa. Tại vị 61 năm, ông đã trừ gian thần, bãi bỏ quy định khoanh vùng chiếm đất, dẹp loạn phiên trấn, bình định Tây Tạng, hưng lợi trừ hại, phát triển sản xuất, đạt được những công tích huy hoàng.
- Dưỡng sức cho dân: Sau khi đích thân chấp chính, Khang Hy hạ lệnh bãi bỏ quy định cho phép quý tộc Mãn Châu được khoanh vùng chiếm đất (quyển địa). Ông quy định đất đai do dân gian khai khẩn vĩnh viễn không được phép khoanh chiếm. Đất đai của các phiên vương thời Minh trước đây được giao cho những người đang canh tác sở hữu.
- Cải cách thuế khóa: Từ năm 1712, ông thực hiện chính sách “sinh thêm nhân đinh, vĩnh viễn không tăng thuế”. Về sau lại thực hiện phương pháp “sáp nhập thuế đinh vào ruộng”, tức là chia đều thuế đinh vào thuế ruộng, thu một loại thuế thống nhất gọi là thuế địa đinh. Điều này đã thay đổi phần nào hiện trạng bất bình đẳng trong thuế dịch. Ông cũng khuyến khích khai hoang, giảm miễn tiền lương thực, cứu trợ nạn dân, xây dựng thủy lợi.
Tuyển chọn hiền tài, bao dung can gián
Trong việc đối xử với bề tôi, cả ba vị minh quân đều biết nhìn người, dùng người tài, lắng nghe lời can gián và có thái độ bao dung đối với những quan lại mắc sai lầm hoặc dám nói thẳng.
- Hán Văn Đế: Ông bãi bỏ tội “phỉ báng triều đình, dùng yêu ngôn mê hoặc công chúng” và tội “dân chúng chỉ trích triều chính”. Văn Đế cho rằng, để hiểu được sai lầm của mình, cần phải để các đại thần dám nói thật. Đối với những người như Viên Áng thẳng thắn và gay gắt khi can gián, Văn Đế luôn khoan dung tiếp thu. Khi một số đại thần như Trương Vũ nhận hối lộ bị phát giác, Văn Đế lấy tiền từ kho hoàng cung ban cho họ, dùng cách này để khiến họ hổ thẹn trong lòng chứ không giao cho quan chấp pháp xử lý.
- Đường Thái Tông: Tin tưởng sâu sắc vào đạo lý “Vua tôi gặp nhau như cá với nước, thì trong nước mới yên bình”, Thái Tông dùng người chỉ xét tài năng, không màng xuất thân hay ân oán. Dưới trướng ông có vô số dũng tướng, hiền thần. Ngụy Trưng từng làm đạo sĩ, Uất Trì Cung từng làm thợ rèn, Trương Lượng xuất thân là nông dân. Ngụy Trưng vốn là cựu thần của Thái tử Kiến Thành, từng bày mưu hãm hại Thái Tông; Lý Tĩnh, Uất Trì Cung là tướng hàng, nhưng tất cả đều được trọng dụng. Thái Tông khuyến khích bầy tôi can gián. Khi Ngụy Trưng qua đời, Thái Tông đau buồn nói: “Lấy đồng làm gương, có thể chỉnh tề áo mũ; lấy lịch sử làm gương, có thể biết sự hưng vong; lấy người làm gương, có thể hiểu rõ được mất. Ngụy Trưng mất rồi, trẫm đã mất đi một tấm gương”.
- Khang Hy: Trong việc dùng người, Khang Hy không phân biệt Mãn – Hán, không nệ môn đệ, chỉ cần có chân tài thực học là trọng dụng (như Cao Sĩ Kỳ, Chu Bồi Công, Vu Thành Long…). Ông quy tụ giới học giả để biên soạn sách, tiêu biểu là bộ bách khoa toàn thư khổng lồ Cổ Kim Đồ thư Tập thành. Với những vị quan dám can gián, ông không những bảo vệ mà còn ngợi khen.
Đề cao sự tiết kiệm, tự kiểm điểm trước những lời cảnh báo của Thượng đế
Trong cách đối xử với bản thân và sai lầm của mình, ba vị minh quân đều đề cao lối sống tiết kiệm, thường xuyên tự soi xét và đón nhận những cảnh báo từ Đất Trời.
- Hán Văn Đế: Tại vị 23 năm, cung thất, vườn tược, chó ngựa, xe cộ của ông không hề tăng thêm so với khi còn làm Đại vương. Có lần định xây một tòa đài cao, tính ra tốn hàng trăm cân vàng, ông liền bỏ ý định. Thường ngày, ông mặc áo lụa thô dày, Thận phu nhân được sủng ái cũng không được mặc áo kéo lê dưới đất. Ông còn hạ lệnh lăng mộ của mình chỉ được dùng đồ gốm sứ, không dùng kim loại quý để trang trí, không xây phần mộ quá to. Khi xảy ra nhật thực, Văn Đế tự trách mình: “Trẫm nghe nói Trời sinh muôn dân, đặt ra quân vương để chăn dắt cai trị. Nếu quân vương không hiền đức, chính sự không công bằng, thì Thượng đế sẽ hiển thị tai dị để cảnh cáo… Trách nhiệm cai trị thiên hạ đều thuộc về một mình Trẫm… Trẫm mong các khanh hãy thẳng thắn chỉ ra lỗi lầm của Trẫm, đồng thời tiến cử những người hiền lương phương chính, dám nói thẳng để bù đắp những thiếu sót của Trẫm.”
- Đường Thái Tông: Năm Trinh Quán thứ 2, có đại thần tâu xin xây một lầu các để tránh nóng và nơi ẩm thấp, Thái Tông từ chối: “Chi phí xây dựng quá lớn. Năm xưa Hán Văn Đế muốn xây Lộ Đài, vì thương xót của cải mà không làm. Đức hạnh của trẫm không bằng Hán Văn Đế, mà chi phí lại tốn kém hơn, trẫm thấy thôi hãy bỏ đi”. Thái Tông tin rằng, thiên tai, dị tượng là lời khiển trách của Thượng đế, quân vương phải kiểm điểm và sửa đổi. Năm Trinh Quán thứ 8, một ngôi sao chổi dài sáu trượng xuất hiện trên bầu trời phía nam. Thái Tông hỏi: “Trẫm có điều bất đức, chính sự có thiếu sót nên mới xuất hiện sao chổi, các khanh thấy sao?”. Dưới sự khuyên can của Ngu Thế Nam, Thái Tông thừa nhận bản thân đã có chút tâm kiêu ngạo và coi đó là lỗi lầm của mình, tạ ơn Thượng đế đã cảnh tỉnh.
- Khang Hy: Chịu ảnh hưởng từ tổ mẫu là Hiếu Trang Hoàng thái hậu, cả đời Khang Hy vô cùng tiết kiệm. Ông thấm nhuần đạo lý “Đạo trị quốc của bậc đế vương, tất phải lấy kính Trời pháp Tổ làm gốc. Lấy lòng của thiên hạ làm lòng mình, lấy lợi ích của bốn biển làm lợi ích của mình”. Mỗi khi gặp thiên tai dị tượng, Khang Hy thường tự nhận lỗi về mình, coi đó là lời cảnh báo của Thượng đế và càng nỗ lực “tu thân, tỉnh lỗi”.
Kết luận
Những triều đại có được vị minh quân nhân đức như vậy tự nhiên sẽ mở ra cục diện thịnh thế hiếm có.
- Sự trị vì của Hán Văn Đế và Cảnh Đế (“Văn Cảnh chi trị”) đã khôi phục mạnh mẽ nền nông nghiệp, giá lương thực giảm mạnh, bá tánh no đủ, ngân khố dư dả đến mức dây xâu tiền đều mục đứt.
- “Trinh Quán chi trị” thời Đường Thái Tông khiến “phía đông đến bờ biển, phía nam tới Ngũ Lĩnh, cửa ngoài đều không cần đóng, người đi đường không cần mang theo lương thực”. Đường Thái Tông được tôn xưng là “Thiên Khả Hãn” (Đại Đế của thiên hạ).
- “Khang Càn thịnh thế” thời Thanh bắt đầu từ giữa thời Khang Hy, tạo ra một xã hội phồn vinh: “Sĩ phu coi trọng thi lễ, dân chúng an cư cày cấy, đêm không trộm cướp, ngày dứt hình phạt, người đi đường hát ca, thương nhân vui vẻ chốn chợ búa”.
Trong lịch sử văn minh 5000 năm của Trung Hoa, qua những tấm gương trị quốc bằng lòng nhân đức dẫn đến cảnh thái bình thịnh trị của ba vị quân vương kể trên, không khó để nhận ra chân lý: Người làm vua muốn an bang định quốc, trước hết phải coi trọng bá tánh, thi hành nhân chính. Hiểu được đạo lý ấy mới nhận được sự bảo hộ của Thượng đế, mới khiến quốc gia thống nhất, kinh tế phồn vinh, chính trị ổn định, xã hội bình yên lâu dài, quốc gia cường thịnh và văn hóa rực rỡ.
Nhìn lại những kẻ cầm quyền ở Trung Quốc đương đại, họ luôn rao giảng “súng đẻ ra chính quyền”, hô hào “đấu với trời, đấu với đất, đấu với người”. Bản chất của điều này chính là tôn sùng bạo lực, làm gì có chỗ cho lòng nhân đức? Bởi vậy, từ khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nắm quyền, họ đã gây ra hết án oan, án sai đến những vụ thảm sát tàn khốc. Từ “Tam phản, Ngũ phản” đến Cách mạng Văn hóa, từ Cách mạng Văn hóa đến sự kiện “Lục Tứ” (Sự kiện Thiên An Môn 4/6), và từ “Lục Tứ” cho đến ngày nay là sự đàn áp đối với những người bất đồng chính kiến bảo vệ nhân quyền, người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương và Pháp Luân Công; tất cả đều là việc thực hành triết học “đấu tranh” của ĐCSTQ. Hậu quả mang lại là chính trị bất ổn, xã hội rung chuyển, dân chúng lầm than, kinh tế phồn vinh giả tạo, đạo đức suy đồi, văn hóa tiêu điều và thiên tai liên miên.
Lịch sử từ lâu đã lưu lại tấm gương sáng cho hậu thế. Vào thời mạt kiếp này, nếu thực sự muốn bình an vượt qua cơn nguy nan, sự lựa chọn duy nhất là bắt đầu từ chính bản thân mình: Lấy nhân đối đãi với người, ngăn chặn cái ác và biểu dương cái thiện.
(Bài viết đã được lược trích)
Theo Vision Times
Văn hóa#Lịch #sử #là #một #tấm #gương #Bài #học #trị #quốc #dân #từ #các #bậc #minh #quân #nhân #đức #thời #xưa1780546546



Tin cùng chuyên mục:
Ca sĩ có 2 triệu người theo dõi đăng quang hoa hậu
Bị chỉ trích ngoài đời xấu hơn trên livestream, streamer gợi cảm bức xúc tới suýt bật khóc
Nét đẹp văn hóa truyền thống Huy Châu trong phim Gia Nghiệp
Vũ điệu đấu bò ra đời tại nước Pháp lãng mạn như thế nào?