Trích “Giang Trạch Dân thật sự” – Chương 4: Xuyên qua làn sương mù nội đấu cấp cao
Phần 6: Tại sao 6 Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị không ngăn nổi Giang Trạch Dân
Quay trở lại vấn đề, chúng ta cần nói về việc tại sao vào năm đó, 6 Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị lại không thể ngăn cản được một mình Giang Trạch Dân.
Sự hung hăng của Giang Trạch Dân
Ngày 20 tháng 7 năm 1999, Giang Trạch Dân bắt đầu cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, sáu uỷ viên thường vụ khác trong Bộ Chính trị đều không tán thành. Khi đó, Giang là Tổng bí thư, sáu uỷ viên thường vụ còn lại là Lý Bằng, Chu Dung Cơ, Lý Thụy Hoàn, Hồ Cẩm Đào, Uất Kiện Hành và Lý Lam Thanh. Tại thời điểm đó, Giang Trạch Dân hoàn toàn cô lập.
Ngày 26 tháng 4 năm 1999, tức là một ngày sau khi Chu Dung Cơ xử lý lý tính việc các học viên Pháp Luân Công thỉnh nguyện phản ánh tình hình, Thường vụ Bộ Chính trị đã họp bàn về vấn đề Pháp Luân Công. Ngay khi Chu Dung Cơ vừa nói: “Cứ để họ tập đi…”, Giang Trạch Dân – lúc này đã phát cuồng vì lòng đố kỵ không ngừng bành trướng – liền nhảy dựng lên, chỉ vào mặt Chu Dung Cơ mà gào thét: “Hồ đồ! Hồ đồ! Hồ đồ! Mất đảng mất nước đấy!”. Những chiếc “mũ” và “gậy” chính trị khổng lồ đó đã khiến Chu Dung Cơ không thể chống đỡ.
Đài VOA ngày 10 tháng 9 năm 2009 dẫn báo cáo của Trung tâm Thông tin Nhân quyền và Dân chủ Hồng Kông cho biết: “Chu Dung Cơ đã hai lần tranh luận với Giang Trạch Dân trong các cuộc họp Thường vụ Bộ Chính trị, cho rằng nếu vấn đề Pháp Luân Công không được xử lý thận trọng sẽ làm gay gắt thêm mâu thuẫn. Giang Trạch Dân thì cho rằng, vào thời điểm cực kỳ nhạy cảm trước kỷ niệm 10 năm sự kiện ‘Lục Tứ’, nhất định phải dùng biện pháp cứng rắn đối với Pháp Luân Công, nếu không sẽ mất đảng mất nước. Trung tâm này cho biết thông tin đến từ một nguồn tin khá tin cậy.”
Một quan chức “610” tiết lộ rằng, trong một bữa tiệc “mừng công” quy mô nhỏ, Lưu Kinh – lúc đó là Thứ trưởng Bộ Công an – đã tiết lộ với các quan chức “610” của Sở Công an tỉnh Cát Lâm và thành phố Trường Xuân rằng Giang Trạch Dân từng gào thét dữ dội với Hồ Cẩm Đào về việc mở rộng biên chế và kinh phí đàn áp của hệ thống “610”.
Lưu Kinh khi đó kể: Năm 2001, tại một cuộc họp triển khai đàn áp Pháp Luân Công, Giang Trạch Dân chỉ ra rằng các văn phòng “610” ban đầu được lập dưới danh nghĩa chính quyền địa phương, nhưng do sự xung đột lợi ích và đặc thù nghiệp vụ giữa Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia, Cục Công an, Cục Tư pháp… mà các hiện tượng đùn đẩy, né tránh, không phục tùng mệnh lệnh, tiêu cực đối phó đã khiến “các sự kiện Pháp Luân Công khắp nơi không những không giảm mà còn diễn biến quyết liệt hơn”. Tại cuộc họp, Giang đề xuất phải thành lập thêm văn phòng “610” tương ứng ngay trong Sở An ninh, Sở Công an và Cục Công an các nơi. Lúc này Hồ Cẩm Đào nói: “Tăng thêm cơ quan ‘610’ thì phải tăng biên chế nhân sự, kinh phí không hề nhỏ.” Giang lập tức nổi trận lôi đình, quát tháo Hồ Cẩm Đào: “Sắp cướp quyền của anh đến nơi rồi, còn biên chế với chẳng kinh phí cái gì nữa!”. Trong việc đàn áp Pháp Luân Công, Giang yêu cầu Hồ Cẩm Đào phải “cần tiền cho tiền, cần người cho người”.
Lợi ích của Đảng vượt lên trên tất cả
Willy Wo-Lap Lam, nhà phân tích cấp cao về vấn đề Trung Quốc của CNN, trong bài viết “Cái giá đắt đỏ cho sự đàn áp của Trung Quốc” đã chỉ ra rằng việc một số ủy viên Bộ Chính trị không ủng hộ cuộc đàn áp của Giang Trạch Dân đã không còn là điều bí mật. Bài báo cũng dẫn lời một đảng viên kỳ cựu nói rằng: “Thông qua việc phát động phong trào chính trị, Giang Trạch Dân đang ép buộc các cán bộ cao cấp phải tuyên thệ trung thành với đường lối của ông ta, điều này sẽ nâng cao uy quyền của ông ta. Giang Trạch Dân hy vọng rằng, cho dù Bộ Chính trị có ý kiến khác nhau về cách xử lý Pháp Luân Công, họ cũng phải thể hiện sự ủng hộ công khai đối với ông ta.”
Sự hung hăng vô sỉ cá nhân của Giang Trạch Dân cố nhiên là một khía cạnh, nhưng điều cuối cùng khiến Giang có thể độc đoán hành động lại do bản chất của ĐCSTQ quyết định. Mặc dù Giang không có uy quyền như các lãnh đạo tiền nhiệm, và các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị dù không đồng ý với cuộc đàn áp, nhưng không ai sẵn sàng vì một nhóm người tu luyện quần chúng mà thực sự thách thức địa vị và quyết định của Giang.
ĐCSTQ từ khi thành lập đến nay, ngay cả trong thời kỳ yếu tiểu bị kẻ thù bao vây, luôn đi kèm với các cuộc thanh trừng và tàn sát nội bộ. Sau khi nắm chính quyền, đảng này lại thông qua các phong trào chính trị thường xuyên để đả kích tàn khốc, phê phán, thậm chí tiêu diệt về mặt thể xác những tiếng nói và quan điểm khác biệt trong nội bộ. Nguyên nhân chính bị thanh trừng là do đứng sai đội ngũ, theo sai người. Những quan chức có thể sống sót qua cỗ máy sát phạt chính trị của ĐCSTQ để bước vào vòng xoáy quyền lực cao nhất, khi đối mặt với các quyết sách chính trị trọng đại cần bày tỏ thái độ, điều họ cân nhắc đầu tiên là bản thân không được vì đứng sai lập trường mà ảnh hưởng đến “sự nghiệp của Đảng” và tiền đồ của chính mình. Trong số các loại sự việc cần ra quyết định, việc ít có khả năng họ đứng ra tranh luận nhất chính là những quyết định liên quan đến quyền cơ bản của người dân bình thường, đặc biệt là quyền tự do tín ngưỡng. Ngược lại, những gì họ có khả năng phủ quyết kiên quyết nhất chính là những quyết định liên quan đến lợi ích của bản thân và gia tộc họ, ví dụ như đề xuất công khai tài sản cá nhân của quan chức đã bị đa số các uỷ viên thường vụ phản đối dữ dội và không được thông qua trong nhiều năm.
Trong việc hoạch định chính sách của ĐCSTQ, mặc dù lý luận và đường lối của mỗi thời kỳ đều điều chỉnh, thay đổi, thậm chí mâu thuẫn và phủ định lẫn nhau, nhưng hệ tư tưởng cộng sản và việc tăng cường duy trì sự lãnh đạo của Đảng luôn là thước đo của “chính trị đúng đắn”. Một đề xuất có được chấp nhận như một chính sách cần thực hiện hay không không phụ thuộc vào số người đồng ý nhiều hay ít, mà thường quyết định bởi việc nó có “đúng đắn về chính trị” hay không. Từ lá thư ngày 25 tháng 4 năm 1999 đến bài phát biểu ngày 7 tháng 6, thủ đoạn mà Giang sử dụng để ép buộc Thường vụ Bộ Chính trị đồng ý đàn áp chính là nâng tầm vấn đề Pháp Luân Công lên mức thách thức đối với ĐCSTQ. Các luận điểm chính ông ta đưa ra bao gồm: bao vây trung tâm quyền lực của Đảng và Nhà nước, tổ chức chặt chẽ, tranh giành quần chúng và trận địa với Đảng, thế lực thù địch phương Tây, bàn tay đen sau màn, v.v., đồng thời so sánh việc Pháp Luân Công thỉnh nguyện với phong trào dân chủ của sinh viên năm 1989. Những cách nói này, trong hệ thống ngôn ngữ của ĐCSTQ, đều là những cáo buộc và tội danh nghiêm trọng nhất trong lịch sử các cuộc đàn áp chính trị của Đảng. Trong môi trường chính trị Trung Quốc, ngay cả lãnh đạo cao nhất của Đảng, một khi thái độ và lập trường đối với những vấn đề này không rõ ràng, cũng không thoát khỏi số phận bị loại bỏ. Do đó, khi Giang nâng vấn đề Pháp Luân Công lên tầm sinh tử của Đảng, ý kiến cá nhân của ông ta – một ý kiến thiểu số tuyệt đối – đã trở thành chính sách quan trọng nhất của ĐCSTQ trong suốt hơn mười năm sau đó.
Đảng tính bóp nghẹt đạo đức cá nhân
Điều chí mạng là, một khi đối mặt với vấn đề trọng đại, các nhân vật cấp cao trước tiên từ bỏ tiêu chuẩn đạo đức để nhượng bộ trước các quy định về Đảng tính của Đảng Cộng sản, điều này đã đặt nhân dân và quốc gia vào tình thế vô cùng nguy hiểm. Cái gọi là nguyên tắc Đảng tính này chính là vũ khí lợi hại nhất để bóp nghẹt lương tri đạo đức của đảng viên, bao gồm cả những nhà lãnh đạo cấp cao.
Một ví dụ điển hình nhất là Hồ Diệu Bang, người được xem là thuộc phái cải cách, một nhà lãnh đạo có lương tâm, nhưng có một câu chuyện như sau. Tháng 10 năm 1985, đoàn nhà báo trung ương đi phỏng vấn tại tiền tuyến Lão Sơn trong chiến tranh biên giới Trung – Việt. Các phóng viên là đảng viên của các báo lớn như Nhân dân Nhật báo, Trung Quốc Thanh niên báo đã chứng kiến một số chỉ huy quân sự (phần lớn là con em cán bộ cao cấp) vì hám danh lợi mà tổ chức những trận đánh không cần thiết, cứng nhắc yêu cầu phải chiếm được điểm này điểm kia vào đúng giờ đó, hở ra là nói “không tiếc bất cứ giá nào!”. Họ coi việc hy sinh bao nhiêu binh sĩ là chuyện nhỏ, vì trong Đảng tính của họ, con người không có giá trị, chỉ cần thỏa mãn cơn khát máu cuồng nhiệt để báo công là được. Trong bữa tiệc chia tay, phóng viên Diệp Nghiên của tờ Trung Quốc Thanh niên báo đã bưng ly rượu vang đỏ, đứng dậy kính rượu các thủ trưởng quân đội và nói: “Đây không phải là rượu, đây là máu của chiến sĩ! Tôi không đứng trên tư cách phóng viên, tôi đứng trên tư cách một người dân thường, thay mặt người dân hậu phương nói một câu: Những thuật ngữ quân sự như ‘không tiếc bất cứ giá nào’ liệu có thể không dùng hoặc dùng ít đi được không!”. Hành động táo bạo của Diệp Nghiên khiến các thủ trưởng quân đội vô cùng tức giận. Vì vậy, trạm phóng viên quân đội của Tân Hoa Xã đã viết một báo cáo nội bộ gửi hỏa tốc lên trung ương. Các lão thành vô cùng giận dữ, vì đây là cuộc chiến mà Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn quyết định đánh, kẻ nào dám “vuốt râu hùm”? Văn bản chuyển đến tay Tổng bí thư Hồ Diệu Bang, ông đã phê thị rằng: “Vấn đề của phóng viên Diệp Nghiên của tờ Trung Quốc Thanh niên báo là nghiêm trọng, cần kiểm điểm nghiêm túc, nếu biểu hiện thường xuyên không tốt, lại không kiểm điểm nghiêm túc, chỉ cần vi phạm một trong hai điều đó, sẽ điều chuyển khỏi vị trí báo chí.” Dù là chủ động hay bất đắc dĩ, Hồ Diệu Bang cũng không thoát khỏi sự khống chế của Đảng tính Cộng sản. Trong cuộc xung đột giữa nhân dân và Đảng, ông đã bảo vệ lợi ích của Đảng chứ không phải nguyên tắc đúng sai đúng đắn.
Chẳng phải đây chính là vũng lầy đạo đức, vũng lầy nhân tính mà tất cả đảng viên ĐCSTQ cần phải tự vấn, từ bỏ Đảng tính để bước ra sao?
Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ dĩ nhiên sẽ không liều mạng vì lợi ích của quần chúng mà ngăn chặn hành động độc đoán của cá nhân Giang Trạch Dân. Đặc biệt trước một tập đoàn đảng ác ôn tập hợp dưới ngọn cờ “cùng nhau phạm tội”, những cá nhân có đạo đức không đến nỗi tệ cảm thấy bất lực, và nhóm được tạo nên từ những cá nhân nhu nhược đó cũng theo đó mà bất lực. Chẳng phải đây chính là sự trượt dốc của đạo đức sao? Mặc dù những cá nhân này không âm mưu cấu kết với nhau, nhưng trước các thế lực đen tối, họ lại càng phải tránh để đạo đức cá nhân không rơi xuống mức vô sỉ như đối phương. Khi đó, tất cả cá nhân, dù là một nhóm số lượng lớn, đều bất lực.
Tuy nhiên, chẳng phải chính những nhà lãnh đạo có đạo đức cá nhân tốt hơn một chút này đang chống giữ cho hình ảnh “chính thống” bề ngoài cuối cùng của ĐCSTQ sao? Chẳng phải trong sự tuyệt vọng bị bóp nghẹt của nhân dân, họ không còn lựa chọn nào khác nên mới gửi gắm hy vọng vào sự trỗi dậy lương tri đạo đức của các ông sao? Các ông đã bao nhiêu lần thấy được lương tri của mình, vận dụng lương tri của mình như vậy? Nếu không có, hoặc không thể, thì hình ảnh gọi là đạo đức tốt hơn của các ông chẳng phải đã trở thành vũ khí lừa dối cho “tính hợp pháp” của ĐCSTQ, từ đó kéo dài hơi tàn cho cái thây ma ĐCSTQ vốn đã sắp vào quan tài, kéo dài nỗi thống khổ của nhân dân sao? Đó gọi là trượt dốc đạo đức. Sự trượt dốc đạo đức hủy hoại tiền đồ quốc gia và tương lai dân tộc này, chẳng phải bắt đầu từ chính những người trung thành với Đảng Cộng sản nhất sao? “Không đáng”, “không làm nổi” là trạng thái phổ biến của các ông. Giang Trạch Dân và Đảng đã lợi dụng những điểm yếu nhân tính đó để mặc sức làm điều ác. Việc dung túng cái ác trong một quyết định liên quan đến sự sinh tử của một trăm triệu dân thực chất là đã thả cửa cho sự tà ác của Giang. Điều này cũng để lại tiền lệ xấu không thể ngăn cản cho các cuộc đàn áp đa dạng sau này, ngày càng quyết liệt và mở rộng ra toàn dân!
Theo Vision Times
Câu chuyện lịch sử#Chuyện #gì #vậy #Uỷ #viên #Thường #vụ #Bộ #Chính #trị #cũng #không #cản #nổi #Giang #Trạch #Dân1776519832


Tin cùng chuyên mục:
Đêm cuối trước khi ra tòa, tôi đưa chồng món đồ cũ mèm, nhìn thấy nó anh bỗng quỵ xuống khóc nghẹn xin tôi tha thứ
Hà Nhuận Đông lên tiếng về hình tượng chiến tướng son phấn của Trương Lăng Hách
Cựu cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hòa Bình bị bắt vì lừa 'chạy việc'
Bộ phim kinh dị Việt gây sốt