Bí cảnh linh tu: Tiên sơn hải ngoại – Sự kỳ diệu của núi Lao Sơn

Bí cảnh linh tu: Tiên sơn hải ngoại – Sự kỳ diệu của núi Lao Sơn缩略图


Núi Lao Sơn (崂山), từ xa xưa đã được người đời tôn xưng là “Hải thượng tiên sơn” (Tiên sơn trên biển), “Thần tiên chi trạch, linh dị chi phủ” (Nơi ở của thần tiên, phủ đệ của cõi linh thiêng). Núi sừng sững ở phía tây nam bán đảo Sơn Đông, thuộc địa phận huyện Lão Lao Sơn phía đông thành phố Thanh Đảo, trải dài khoảng 300 km vuông. Kiệt tác thiên nhiên được chạm khắc bởi tạo hóa và thần thoại này nằm nép mình bên đại dương bao la, với đỉnh chính là Cự Phong (còn gọi là Lao Đỉnh) cao 1.133 mét so với mực nước biển. Đứng sừng sững kiêu hãnh vươn cao trên đường bờ biển dài của Trung Quốc, nơi đây đã trở thành một cột mốc tự nhiên kỳ vĩ nhất nơi tận cùng của muôn ngàn ngọn sóng dữ.

Nguồn gốc các tên gọi qua các triều đại

Lao Sơn đã lưu lại nhiều dấu ấn khác nhau qua các thời kỳ lịch sử, thời cổ đại từng được gọi là Lao Sơn (劳山 – chữ Lao nghĩa là nhọc nhằn), Lao Sơn (牢山 – chữ Lao nghĩa là vững chãi), Phụ Đường Sơn, Ngao Sơn. Theo cuốn “Thái Bình Hoàn Vũ Ký” do Nhạc Sử đời Tống biên soạn, khi Tần Thủy Hoàng lên ngọn núi này, phóng tầm mắt ngắm nhìn chốn bồng lai tiên cảnh mờ ảo xa xăm, vì quá trình leo núi khá mệt nhọc, nên ông đã đặt tên cho ngọn núi là “Lao Sơn” (劳山); lại vì nền móng vững chắc, thân núi không thể lay chuyển, nên cũng được gọi là “Lao Sơn” (牢山).

Đại nho thời Minh là Cố Viêm Vũ lại kể câu chuyện này từ một góc độ khác: Tần Thủy Hoàng xuất hành, ắt có vạn người mở đường, bá quan văn võ tùy tùng, ngàn người kéo xe, cả một quận phải phô trương tiếp đón, bách tính vài huyện phải lo dự trữ lương thực hầu hạ, dẫn đến cảnh tứ dân bỏ bê nghiệp sở, chấn động ngàn dặm, bách tính đất Tề chịu nhiều cực khổ, do cái “lao” (cực nhọc) đó mà gọi là “Lao Sơn”.

Đến thời Đường thịnh trị, Đường Huyền Tông vô cùng sùng bái Đạo giáo, đã đặc biệt ban chiếu chỉ cho phép Hứa Vương đến ngọn núi này luyện thuốc trường sinh bất lão, đồng thời ngự ban tên mới là “Phụ Đường Sơn”, gửi gắm hy vọng giang sơn vững bền mãi mãi. Cho đến thời Nguyên, nhất đại tông sư của phái Toàn Chân là Khâu Xứ Cơ cũng đến Lao Sơn, thấy toàn bộ dãy núi lúc nổi lúc chìm trong sương mù biển, hình dáng tựa như một con rùa biển khổng lồ (Ngao) đang vươn mình ra đại dương, liền vui vẻ đổi tên thành “Ngao Sơn”, và để lại những câu thơ tuyệt mỹ: “Lao Sơn bản thân chính là Ngao Sơn, giữa biển khơi mênh mông không thể vịn tới. Thượng đế muốn ban quả vị tu đạo, nên dời dấu tích tiên nhân đến gần chốn nhân gian”. Mãi đến thời Thanh, ngọn núi danh tiếng trải qua bao thăng trầm này mới chính thức được định danh là “Lao Sơn” (崂山) và được sử dụng cho đến ngày nay.

Vùng đất linh thiêng của bậc cầu tiên vấn đạo

Lao Sơn sở dĩ được vinh danh là “Tiên sơn”, không chỉ vì cảnh quan núi non biển cả kỳ vĩ, mà còn vì từ xa xưa nơi đây đã là bảo địa linh thiêng tuyệt vời để cầu tiên vấn đạo và ẩn dật tu luyện. Trong cuốn “Sử Ký” từng lưu lại một ghi chép bí ẩn: Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, ven biển quận Lang Nha có một kỳ nhân tên là An Kỳ Sinh, ngày thường kiếm sống bằng nghề bán thuốc. Tương truyền loại táo mà ông ăn to như quả dưa, vì đắc đạo thành tiên nên ông sống thọ cả ngàn năm, được người đời suy tôn là “Thiên tuế ông”.

Khi Tần Thủy Hoàng đi tuần thú phía đông đến Lang Nha nghe danh ông, đã đích thân triệu kiến An Kỳ Sinh, hai người thắp nến hàn huyên trong mật thất suốt ba ngày ba đêm. Trước khi rời đi, An Kỳ Sinh để lại cho vị hoàng đế thiên cổ một lời sấm truyền: “Ngàn năm sau, hãy tìm ta dưới chân núi Bồng Lai.” Để truy tìm dấu tích của vị thần tiên này cùng thứ thuốc trường sinh bất lão mờ ảo hư vô kia, Tần Thủy Hoàng sau đó đã phái phương sĩ Từ Phúc dẫn đầu một đội ngũ khổng lồ gồm đồng nam đồng nữ, lên thuyền ra khơi tại vùng biển Lao Sơn, cuối cùng một đi không trở lại, để lại một bí ẩn thiên cổ. Đến thời Tây Hán, Hán Vũ Đế cũng đích thân lên Lao Sơn tế lễ, có lẽ ông cũng muốn gặp được thần tiên tại nơi hội tụ linh khí đất trời giao hòa này.

Động thiên phúc địa gột rửa tâm tính

Chính vì sự linh dị và thanh u vốn có của vùng đất này, từ thời Tần Hán đến nay, vô số người tu hành đã xem nơi đây là “động thiên phúc địa” để đoạn tuyệt hồng trần, gột rửa tâm tính. Trương Liêm Phu thời Tây Hán từng dựng lều tranh ở đây, Hứa Vương thời Đường luyện đan tại đây, các cao đạo thời Tống như Nhạc Chính Tử Trường, Lưu Nhược Chuyết, Chân Tê Chân cũng lần lượt ẩn tu chốn sơn lâm.

Cuốn “Lao Sơn chí” của Hoàng Tông Xương thời Minh có ghi lại một giai thoại: Nhạc Chính Tử Trường không rõ quê quán ở đâu, trong chốn thâm sơn cùng cốc của núi Lao Sơn tình cờ gặp được thần tiên, được truyền thụ phương thuốc “Cự Thắng Xích Tán Phương”. Ông uống thuốc theo toa, hơn một trăm tám mươi tuổi mà dung nhan vẫn không già, sắc mặt hồng hào như trẻ thơ, sau đó ông tiến sâu vào tận cùng núi Lao Sơn, không rõ tung tích, hóa vũ đăng tiên. Cuốn “Sơn Đông thông chí” thời Càn Long nhà Thanh cũng ghi chép câu chuyện của Chân Tê Chân, vị văn nhân đất Đan Châu này do thi rớt, nhìn thấu hồng trần nên đã đến Lao Sơn tầm đạo tu hành, theo công phu tu luyện ngày một sâu dày, dung mạo của ông cũng thay đổi như được thay da đổi thịt.

Thời kỳ hoàng kim của Đạo giáo Toàn Chân

Dưới thời Kim – Nguyên, Đạo giáo Lao Sơn bước vào thời kỳ hưng thịnh chưa từng có, một lượng lớn đạo sĩ phái Toàn Chân ùn ùn đổ về đây như thủy triều. Trong đó danh tiếng lẫy lừng nhất không ai khác chính là Khâu Xứ Cơ – một trong Toàn Chân thất tử, sự xuất hiện của ông đã làm vang danh tiên sơn Lao Sơn khắp hai bờ Nam Bắc đại giang.

Cùng lúc đó, các bậc tu hành như Lý Chí Minh, Lưu Chí Kiên, Vương Gia, Tôn Bất Nhị cũng để lại dấu chân tu luyện tại đây. Lý Chí Minh tọa thiền suốt mười hai năm tại Thượng Thanh Cung, lại quay mặt vào vách đá mười lăm năm trong động Minh Hà ở sườn núi Côn Luân phía nam Lao Sơn, đến khi tám mươi tuổi bước đi vẫn nhẹ nhàng mạnh mẽ, đôi mắt sáng như sao, số môn đồ dưới trướng lên tới gần năm trăm người. Lại có Vương Gia Lộc người Tân Thành, thuở thiếu thời vào núi, được dị nhân truyền thụ “Ngũ Cầm chi thuật”, lâu dần tích cốc tuyệt thực, thỉnh thoảng chỉ ăn lá tùng bách, vươn lên trên mọi ràng buộc vật chất.

Cho đến thời Minh Thanh, đạo phong ở Lao Sơn vẫn không hề suy giảm, Từ Phục Dương, Trương Tam Phong, Lý Thủ Chân cùng nhiều người khác tiếp tục duy trì ngọn lửa đạo. Từ Phục Dương hiệu Thái Hòa Tử, sau khi được Lý Linh Tiên bí truyền đã ẩn cư tại Hạc Sơn Ngộ Chân Am tu thành chính quả; và nhất đại tông sư Trương Tam Phong cũng từng đi vân du từ Thanh Châu đến đây, dạo chơi lưu trú ở Lao Sơn, đến nay trong núi vẫn còn lưu giữ những di tích khiến người ta vô cùng khao khát như Tháp Trương Tiên, Lạp Tháp Thạch; người huyện Đằng là Lý Thủ Chân thuở nhỏ du ngoạn Lao Sơn, được dị nhân truyền thụ bí thuật, cuối cùng cũng công đức viên mãn tại đây.

Dấu tích tiên nhân và cung quán ngàn năm

Quần tiên tụ hội, đã lưu lại vô số dấu tích tiên nhân giữa muôn ngàn khe rãnh đồi núi Lao Sơn, đó chính là các công trình cung quán nằm rải rác khắp núi rừng. Quần thể kiến trúc Đạo giáo xuất hiện sớm nhất trên núi Lao Sơn có thể bắt nguồn từ Thái Thanh Cung được xây dựng vào thời Tây Hán. Đến năm Kiến Long thứ nhất thời Tống Thái Tổ, vị hoàng đế khai quốc đã đích thân hạ chiếu trùng tu Thái Thanh Cung, biến nơi đây thành đạo tràng sắc phong của hoàng gia “Vĩnh vi tu chân chi sở” (Nơi mãi mãi dành cho việc tu chân).

Thời Tống là thời kỳ hoàng kim đầu tiên trong việc xây dựng cung quán ở Lao Sơn, các công trình như Thượng Thanh Cung, Thái Bình Cung, Bách Phúc Am, Thạch Phật Am mọc lên như nấm men theo sườn núi. Thời Nguyên, cùng với sự hưng thịnh của Toàn Chân giáo, Lao Sơn lại mở rộng thêm vô số các công trình kiến trúc như Nghênh Chân Quán, Thông Chân Cung, Hoa Lâu Cung, Hoàng Thạch Cung, Chúng Tiên Cung, Ngộ Chân Am, Thánh Thủy Am… Các điện ngọc ẩn mình giữa những tán tùng bách xanh tươi và thác nước suối reo, tựa như thiên cung rơi xuống chốn nhân gian. Hai triều đại Minh, Thanh tuy không xây dựng thêm cung quán quy mô lớn, nhưng lại tiến hành tu bổ và bảo vệ cẩn thận những công trình kiến trúc cổ này.

Đến tận ngày nay, len lỏi giữa làn sương mù và những khối đá kỳ dị của Lao Sơn, Thái Thanh Cung, Thượng Thanh Cung, Thái Bình Cung, Hoa Lâu Cung vẫn hương khói nghi ngút, tỏa ra màn sương linh thiêng của ngàn năm thanh tu. Còn trong thung lũng sâu thẳm phía bắc Thái Thanh Cung, tiếng tụng kinh niệm Phật của chùa Hoa Nghiêm và phong thái tiên phong đạo cốt của Đạo giáo bổ sung cho nhau thêm phần hoàn mỹ; đá Ngư Cổ vang vọng trong gió, như đang kể về những bí mật thiền môn; động Na La Diên u tịch thâm sâu, đá Bát Tiên và đá Bàn Cờ lặng lẽ đứng đó, tương truyền là tàn cuộc do thần tiên đánh cờ để lại. Trên những tàn tích của Minh Đạo Quán và “Tụ Tiên Đài” phía đông Hoa Lâu Cung, gió biển vẫn thổi mạnh mẽ, tựa như tiếng cười nói rộn rã và tiếng cạn chén giao bôi của Bát Tiên quá hải, đón gió hóng mát năm xưa chưa từng tan đi.

Lao Sơn, ngọn tiên phong sừng sững trên đường bờ biển này, cứ như vậy dùng những tảng đá kỳ lạ, thung lũng sâu, suối nước trong và huyền thoại tiên đạo kéo dài hàng ngàn năm của nó, tỏa ra thứ ánh sáng kỳ diệu bên bờ biển Hoàng Hải.

Theo VisionTimes

Văn hóa#Bí #cảnh #linh #Tiên #sơn #hải #ngoại #Sự #kỳ #diệu #của #núi #Lao #Sơn1784013964

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *