Các đại sư Quốc học thời đầu Dân quốc tẩy chay việc giản hóa chữ Hán, Vương Quốc Duy lấy thân tuẫn quốc

Các đại sư Quốc học thời đầu Dân quốc tẩy chay việc giản hóa chữ Hán, Vương Quốc Duy lấy thân tuẫn quốc缩略图


Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã làm một việc sai lầm trong việc phá hoại văn hóa Thần truyền của Trung Quốc, và chữ Giản thể là một ví dụ điển hình. Các quan chức văn hóa của ĐCSTQ đến nay vẫn ca ngợi việc giản hóa chữ Hán. Những tranh luận về đúng sai giữa chữ Phồn thể và chữ Giản thể của chữ Hán Trung Quốc trên mạng có rất nhiều. Trước đây, tôi cũng từng viết một bài viết nhỏ về câu chuyện chữ Hán, có đề cập đến tác hại của việc ĐCSTQ tiến hành giản hóa chữ Hán.

Các quan chức trong thể chế ĐCSTQ và những “Tiểu phấn hồng” bị tiêm nhiễm độc hại đã vu khống chữ Phồn thể là “băng vải bó chân” trong văn hóa, đáng lẽ phải vứt vào sọt rác từ lâu; họ cho rằng việc một nơi như Đài Loan kiên trì dùng chữ Phồn thể để giáo dục thế hệ mai sau là một hành vi tội ác. Nhưng những phát ngôn coi thường, miệt thị, xem nhẹ và châm biếm một văn tự đại diện cho mấy nghìn năm lịch sử văn minh như vậy, cùng những lời chỉ trích cực đoan và độc địa đó, lại phản ánh chính xác sự vô tri của họ đối với chữ nghĩa Trung Quốc.

Các đại sư Quốc học thời đầu Dân quốc tẩy chay việc giản hóa chữ Hán, Vương Quốc Duy lấy thân tuẫn quốc插图
Yêu mà không có tim (tâm), đó chẳng phải là yêu giả tạo sao? (Nguồn ảnh: Ảnh cắt ghép Kim Tiêu Phách Ám)

Lấy vài chữ Hán làm ví dụ, vấn đề của chữ Giản thể hiển hiện rất rõ ràng, chẳng hạn như: Chữ “Thính” (听 – nghe) vốn được cấu thành từ “Nhĩ” (tai), “Mục” (mắt), “Tâm” (tim) phối hợp lại, nay bị giản hóa thành chữ “Thính” (听) chẳng có tai, mắt cũng không có tim; chữ “Ái” (爱 – yêu) thành chữ “Ái” (爱) vô tâm (không có trái tim); chữ “Nghĩa” (義 – chính nghĩa, việc nghĩa) thể hiện hành vi hành thiện của cá nhân bị lược dịch cẩu thả thành chữ “Nghĩa” (义); chữ “Thân” (親 – người thân, gần gũi) cũng thành chữ “Thân” (亲) gặp mặt không thấy nhau thì chẳng còn thân thuộc gì nữa; chữ “Sản” (产 – sản xuất, sinh sản) không có chữ “Sinh” (生); chữ “Vận” (运 – vận chuyển, vận mệnh) không có “Xa” (车 – xe); chữ “Tiến” (进 – tiến lên, bước vào) không phải là càng ngày càng tốt đẹp hơn, mà là đi vào trong “Tỉnh” (井 – cái giếng); chữ “Thánh” (圣 – bậc thánh nhân) vừa không có “Nhĩ” (tai) lại vừa không có “Khẩu” (miệng), v.v.

Các đại sư Quốc học thời đầu Dân quốc tẩy chay việc giản hóa chữ Hán, Vương Quốc Duy lấy thân tuẫn quốc插图1
Chữ “Tiến” sau khi chuyển sang chữ Giản thể đã trở thành chữ “Tiến” (进) mang nghĩa đi vào trong giếng, chứ không phải là càng ngày càng tốt đẹp hơn. (Nguồn ảnh: Ảnh cắt ghép/Chinatimes)

Thông thường mà nói, thế hệ 8x, đặc biệt là những người sinh ra sau khi trải qua cuộc “Đại Cách mạng Văn hóa” của ĐCSTQ, là nhóm người điển hình bị nhồi nhét và độc hại bởi văn hóa Đảng của ĐCSTQ. Văn hóa Đảng của ĐCSTQ, từ trước “Văn cách” đã nhồi nhét vào người dân rằng Đảng Cộng sản vĩ đại, quang vinh, chính xác như thế nào; tuyên truyền thuyết vô thần, thuyết tiến hóa, thuyết đấu tranh giai cấp. Những từ ngữ hoa mỹ và “lý luận” vĩ đại, quang vinh, chính xác này của ĐCSTQ nhằm che đậy việc Mao Trạch Đông đã khôi phục lại chế độ xã hội chuyên chế độc tài thời kỳ tiền Tần vốn đã bị Cách mạng Tân Hợi lật đổ.

Năm 1966, trong cuộc “Đại Cách mạng Văn hóa” do Mao Trạch Đông phát động, việc phá “Tứ cựu” chính là phá trừ tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, tập quán cũ. Đạo đức và quan niệm truyền thống của nhân dân Trung Quốc đã trở thành tư tưởng cũ. Ba đạo giáo (Nho, Phật, Đạo) trở thành văn hóa cũ. Trong “Văn cách”, văn hóa Đảng của ĐCSTQ dẫn đến trào lưu tư tưởng cực tả, dẫn đến việc phá hoại văn hóa truyền thống Trung Quốc, khiến trường học phải đóng cửa, sản xuất công nông nghiệp đình trệ, trăm nghề đều thối nát, kinh tế suy thoái. Lịch sử Trung Quốc sau “Văn cách” là một lịch sử Trung Quốc đã bị sửa đổi. Do đó, những người trẻ tuổi sinh ra sau “Văn cách”, họ vừa không hiểu lịch sử chân thực của Trung Quốc, lại càng không hiểu rằng các bậc đại sư Quốc học Trung Quốc thời kỳ cuối Thanh đầu Dân quốc đã tẩy chay việc giản hóa chữ Hán.

Thế hệ này thường vừa không hiểu lịch sử Trung Quốc, lại càng không hiểu vì sao các bậc đại sư Quốc học thời kỳ cuối nhà Thanh đầu thời Dân quốc lại tẩy chay việc giản hóa chữ Hán? Tôi xin lấy ví dụ về việc đại sư Quốc học Vương Quốc Duy tự trầm mình qua đời tại hồ Côn Minh trong Di Hòa Viên ở Bắc Kinh vào ngày 2 tháng 6 năm 1927 để nói thêm vài lời ngắn gọn về kiến giải của mình.

Các đại sư Quốc học thời đầu Dân quốc tẩy chay việc giản hóa chữ Hán, Vương Quốc Duy lấy thân tuẫn quốc插图2
Đại sư Quốc học Vương Quốc Duy tự trầm mình qua đời tại hồ Côn Minh trong Di Hòa Viên ở Bắc Kinh vào ngày 2 tháng 6 năm 1927. (Nguồn ảnh: Ảnh mạng)

Đại sư Quốc học Vương Quốc Duy sinh ngày 3 tháng 12 năm 1877. “Trời sắp giáng sứ mệnh lớn cho người này” là lời của Mạnh Tử. Chúng ta từ cái tên của Vương Quốc Duy có thể phán đoán rằng, cuộc đời của ông là do Thần an bài, sứ mệnh lớn lao và sứ mệnh lịch sử của ông chính là truyền bá và bảo vệ văn hóa truyền thống Trung Quốc — Quốc học. Trong bài viết bàn về chữ Hán trước đây tôi từng nói, Đại học Thanh Hoa từng xuất hiện bốn vị đại sư Quốc học lớn, Vương Quốc Duy là một trong số đó. Trong thời gian đảm nhiệm giáo sư tại Đại học Bắc Kinh, ông đồng thời còn được triều đình nhà Thanh mời làm thầy dạy Hán học cho hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc là Phổ Nghi, chức quan gọi là “Nam Thư phòng Hành tẩu”, là một quan ngũ phẩm.

Thế nhưng thời đại lịch sử mà ông sống lại chính là thời kỳ cuối Thanh đầu Dân quốc, là thời kỳ giao thời giữa cái cũ và cái mới của văn hóa Trung Quốc. Mọi người đều biết, năm 1917, Liên Xô đã lật đổ Đế quốc Nga Sa hoàng, thành lập chính quyền quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Vương Quốc Duy tại Trung Quốc đã trải qua phong trào “Ngũ Tứ” năm 1919, lại chứng kiến đủ loại biến đổi của cục diện chính trị Trung Quốc sau khi bóng ma cộng sản xâm nhập vào nước này. Sau khi ĐCSTQ xuất hiện trên vũ đài lịch sử Trung Quốc, ông đã dự cảm được mối nguy hại của hiểm họa đỏ đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc. Sau Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Quốc dân Đảng năm 1924, Quốc dân Đảng bắt đầu thực hiện chính sách “Liên Nga dung Cộng”. Vương Quốc Duy nhìn thấy tư tưởng chủ nghĩa cộng sản lan rộng ở Trung Quốc sau phong trào “Ngũ Tứ”, văn hóa truyền thống của Trung Quốc bị sụp đổ, văn minh Hoa Hạ đang bị đảo lộn, con người bị can nhiễu bởi những tà thuyết của thuyết vô thần và thuyết đấu tranh giai cấp, gây ra mê mờ về tư tưởng, băng hoại về đạo đức. Vương Quốc Duy cảm thấy bản thân có lòng báo quốc nhưng không có lực xoay chuyển trời đất, sự xích hóa (cộng sản hóa) sắp thành, Thần Châu sẽ trở nên hoang phế. Do đó ông đã lựa chọn lấy thân tuẫn quốc, tự vẫn ở hồ Côn Minh, hưởng thọ vỏn vẹn 51 tuổi.

Việc Vương Quốc Duy tự trầm tử vong ở hồ Côn Minh và việc Lão Xá trong thời “Văn cách” bị Hồng vệ binh lôi ra đấu tố, sỉ nhục, đánh đập tại Khổng Miếu khi phá “Tứ cựu”, sau khi chịu đựng tận cùng sự bức hại và nhục nhã, ông đã đến Tiểu Tây Thiên ngoài Đức Thắng Môn ở Bắc Kinh gieo mình xuống hồ Thái Bình tự vẫn, hai việc này có tâm lý và ý nghĩa tương đồng nhau. Hành vi tự sát của họ, nếu phân tích từ góc độ “Tâm lý học”, thì có cùng một kiểu tâm lý. Ý nghĩa tự sát của họ là sự bi phẫn đến tột cùng, nhưng thà chết chứ không chịu khuất phục, muốn dùng cái chết cuối cùng để đưa ra một lời cảnh tỉnh cho người đời. Tất nhiên, người viết phản đối việc sát sinh, và tự sát cũng thuộc về sát sinh.

Cuối cùng, xin kèm theo một câu chuyện về câu đối.

Mọi người đều biết, vua Càn Long thời nhà Thanh là người yêu thích văn hóa truyền thống Trung Quốc. Ông vừa chăm lo việc triều chính lại vừa bác học. Trong thời kỳ Càn Long thịnh thế, để thấu hiểu nỗi niềm của dân chúng, ông đã từng nhiều lần dẫn theo các triều thần đi tuần du phương Nam. Vua Càn Long rất thích đối câu đối. Có một lần trong chuyến tuần du, thời tiết trong lành gió mát, ông xúc cảnh sinh tình, để thử tài các quan viên xung quanh liền đưa ra một vế đối thượng, rằng: Nhất nhật vi nhật, nhị nhật vi xương, tam nhật vi tinh (一 日 为 日 、 二 日 为 昌 、 三 日 为 晶 – Một chữ nhật là mặt trời, hai chữ nhật thành chữ xương, ba chữ nhật thành chữ tinh).

Có vị thần tử bên cạnh đối lại vế dưới rằng: Nhất nhân vi nhân, nhị nhân vi tòng, tam nhân vi chúng (一 人 为 人 、 二 人 为 从 、 三 人 为 众 – Một người là chữ nhân, hai người thành chữ tòng, ba người thành chữ chúng). Càn Long lắc đầu.

Lại có người đối rằng: Nhất hỏa vi hỏa, nhị hỏa vi viêm, tam hỏa vi diễm (一 火 为 火 、 二 火 为 炎 、 三 火 为 焱 – Một lửa là chữ hỏa, hai lửa thành chữ viêm, ba lửa thành chữ diễm), Càn Long lại lắc đầu.

Càn Long điểm danh Kỷ Hiểu Lam đối vế dưới, nói rằng: “Kỷ ái khanh, khanh nói thử xem”. Kỷ Hiểu Lam nhìn thấy phong cảnh bên bờ Đại Vận Hà cây cối rậm rạp, quốc thái dân an, tràn đầy sức sống, thế là ông cũng xúc cảnh sinh tình, mở miệng đối ngay rằng: Diện mộc vi mộc, lưỡng mộc vi lâm, tam mộc vi sâm (单 木 为 木 、 俩 木 为 林 、 参 木 为 森 – Một cây là chữ mộc, hai cây thành chữ lâm, ba cây thành chữ sâm). Vua Càn Long nghe xong vô cùng vui mừng.

Trong câu chuyện này, vế đối thượng do vua Càn Long đưa ra có độ khó nhất định, bởi vì như tôi đã giảng trong các bài viết về câu đối trước đây, viết câu đối có những quy tắc nhất định. Vì sao vế đối của hai người trước lại không thích hợp? Vì sao vế đối của Kỷ Hiểu Lam lại nói trúng vào tâm ý của hoàng đế? Độc giả nào có thể nói ra được đạo lý trong đó, xin vui lòng để lại bình luận phía dưới bài viết nhỏ này của tôi.

Viên Đinh
Viết ngày 25 tháng 6 năm 2025

Theo Vision Times

Văn hóa#Các #đại #sư #Quốc #học #thời #đầu #Dân #quốc #tẩy #chay #việc #giản #hóa #chữ #Hán #Vương #Quốc #Duy #lấy #thân #tuẫn #quốc1779470197

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *