“Thanh Minh” là một trong hai mươi tư tiết khí, sau tiết Xuân phân, trời đất thanh tịnh, vạn vật sáng sủa sạch sẽ, do đó gọi là “Thanh Minh”. Từ giữa thời Đường đến thời Tống, tiết Thanh Minh gắn liền với tết Hàn Thực, dần phát triển thành Tết Thanh Minh mang cả ý nghĩa cúng tế tổ tiên và đạp thanh (du xuân). Thực ra, những phong tục đa dạng của Tết Thanh Minh có lịch sử còn lâu đời hơn cả việc tảo mộ tế tổ, hãy cùng điểm lại và khám phá.
Trí tuệ cổ nhân: Thanh Minh cải hỏa (Đổi lửa) Thời Chu có “Quý xuân xuất hỏa”, tức là lễ nghi ban lửa mới vào dịp Thanh Minh (Chu Lễ). Thời Đường – Tống, tết Hàn Thực cấm đốt lửa, cho đến đúng ngày Thanh Minh mới khoan gỗ liễu lấy lửa mới, gọi là “Lửa gỗ liễu”. Tô Thức có câu thơ “Tam kiến Thanh Minh cải tân hỏa” (Ba lần thấy Thanh Minh đổi lửa mới), chính là ghi chép lịch sử về việc đổi lửa dịp Thanh Minh.
Vì sao phải đổi lửa? Từ Đĩnh trong “Cải hỏa giải” có chỉ ra rằng, nguồn lửa bốn mùa nếu không được thay đổi đúng lúc thì dễ sinh độc tố gây bệnh, đổi lửa là để “cứu tật” (phòng bệnh).

Đạp thanh du xuân, thưởng ngoạn cảnh đẹp Du xuân đạp thanh dịp Thanh Minh bắt nguồn từ phong tục đến bờ sông làm lễ Phất Hề (tắm gội sạch sẽ, xua đuổi tà ma) của người nước Trịnh thời Xuân Thu, có thể truy ngược về lễ nghi dùng hương thảo tắm gội sạch thân thời Chu.

Phong tục đạp thanh cầu phúc dịp Thanh Minh qua các triều đại thịnh hành ra sao? Từ thời Hán đến thời Tấn, vào ngày Thượng Tị tháng 3 âm lịch, sau này phát triển thành tiết Thanh Minh mùng 3 tháng 3, phong tục “Phất Hề” cầu phúc trên dòng nước chảy về phía đông rất thịnh hành trong cả giới quan lại và dân gian (Hậu Hán thư – Lễ nhạc chí thượng, Thông điển – Lễ thập ngũ – Phất Hề). Tác phẩm nổi tiếng “Lan Đình tập tự” của Vương Hi Chi chính là kiệt tác về lễ “Phất Hề” ngày Thượng Tị.
Câu thơ của Mạnh Hạo Nhiên “Tuế tuế xuân thảo sinh, Đạp thanh nhị tam nguyệt” (Năm năm cỏ xuân mọc, Đạp thanh tháng hai ba) miêu tả cảnh đạp thanh thời Đường, tràn ngập hơi thở vui tươi của tết Thanh Minh. Người dân kinh thành thời Tống ra ngoại ô tảo mộ, đạp thanh, thưởng ngoạn cảnh đẹp, dưới bóng liễu hoa nở khắp nơi có thể thấy bạn bè tụ tập yến tiệc, thu hút đủ trò vui chơi giải trí, tụ tập thành chợ, ăn uống vui chơi, không thiếu thứ gì (Võ Lâm cựu sự). Người dân kinh thành thời Thanh đi đạp thanh vào ngày Thanh Minh đông hàng vạn người (Đế Kinh tuế thời kỷ thắng).

Cắm liễu đội liễu, trừ tà giữ tuổi xuân Vào dịp Thanh Minh, cây liễu đâm chồi nảy lộc. Vì sức sống của cây liễu rất mãnh liệt nên người xưa coi đây là thánh vật trừ tà. Thời xưa có tục cắm liễu và đội liễu vào tết Thanh Minh, truyền thuyết kể rằng bắt nguồn từ việc Tấn Văn Công thời Xuân Thu tưởng nhớ trung thần Giới Tử Thôi.
Tại sao thời xưa lại thịnh hành tục đội liễu tết Thanh Minh? Người dân thời Tống sau khi tảo mộ có thói quen bẻ cành liễu bên mộ cắm lên xà nhà. Bài thơ “Xuân nhật” của Lục Du có câu “Nhân gia sáp liễu ký Thanh Minh” (Nhà nhà cắm liễu nhớ Thanh Minh) chính là miêu tả cảnh tượng này. Thời Tống lưu truyền câu tục ngữ “Thanh Minh bất đái liễu, hồng nhan thành hạo thủ” (Thanh Minh không đội liễu, hồng nhan thành bạc đầu), gán cho cành liễu ý nghĩa lãng mạn bảo vệ tuổi thanh xuân. Thời Thanh có câu nói vui “Thanh Minh bất đái liễu, lai sinh biến hoàng cẩu” (Thanh Minh không đội liễu, kiếp sau hóa chó vàng) (Đế Kinh tuế thời kỷ thắng), trẻ em thường đội cành liễu đi tảo mộ (Yên Kinh tuế thời ký).
Các trò thi đấu tràn đầy sức sống, văn võ song toàn Người xưa vào dịp Thanh Minh đua nhau tổ chức các trò chơi, cuộc thi, thể hiện tư thế oai hùng văn võ song toàn.
Những môn thể thao thi đấu năng động nào thời nay có liên quan đến tết Thanh Minh?
- Xúc cúc (đá cầu, đánh cầu): Xúc cúc chính là đá bóng, tương truyền do Hoàng Đế sáng tạo để huấn luyện quân sự, thịnh hành vào thời Hán – Đường, đến thời Tống thì phát triển lên đến đỉnh cao (Sự vật kỷ nguyên). Các tân khoa tiến sĩ thời Đường có “Đả cầu chi yến” (tiệc đánh cầu) vào tết Thanh Minh, thể hiện phong thái văn võ song toàn (Liễn hạ tuế thời ký).
- Kéo co (Khiên câu): Thời Chiến Quốc gọi là “Thác câu”, vốn là bài huấn luyện quân sự của nước Sở. Đến thời Đường gọi là “Bạt hà” (Kéo co), nam nữ trong cung thời Thanh Minh đều có thể tham gia thi đấu, tể tướng và phò mã cũng tham gia (Đàm trưng – Sự bộ – Bạt hà). Vương Đảng thời Bắc Tống miêu tả cảnh kéo co vô cùng hoành tráng, phải dùng sợi dây khổng lồ, hàng trăm người cùng tham gia (Đường ngữ lâm). Theo Tùy thư – Địa lý chí hạ ghi chép, kéo co kết hợp với đánh trống và ca dao, còn mang ý nghĩa cầu mong mùa màng bội thu.
- Đánh đu: Đánh đu bắt nguồn từ người Sơn Nhung ở phương Bắc, sau truyền vào Trung Nguyên (Cổ kim nghệ thuật đồ). Sau thời Hán, nó trở thành hoạt động thể thao dân gian trong tết Thanh Minh và Đoan Ngọ. Vì thiết bị đơn giản nên rất được phụ nữ yêu thích, thịnh hành trong giới thiếu nữ và các tiểu thư đài các. Bài “Thu thiên từ” của Vương Kiến thời Đường miêu tả cảnh tượng này: “Thiếu niên nhi nữ trọng thu thiên, bàn cân kết đái phân lưỡng biên. Thân khinh quần bạc dị sinh lực, song thủ hướng không như điểu dực” (Nam thanh nữ tú chuộng đánh đu, khăn đội đầu thắt vạt chia hai bên. Thân nhẹ váy mỏng dễ tung sức, hai tay dang không trung như cánh chim).
Thanh Minh tảo mộ, thận chung truy viễn Hậu Hán thư ghi chép “Cổ bất mộ tế” (Thời xưa không cúng bái ở mộ phần), giới sĩ đại phu thời xưa tế tổ ở gia miếu. Đến thời Đường, bách tính không có gia miếu thì cúng tổ tiên vào tết Hàn Thực, việc ra mộ phần cúng bái dần trở thành phong tục. Do đó, Đường Huyền Tông đã hạ chiếu vào tháng 4 năm Khai Nguyên thứ 20, cho phép dân chúng ra mộ cúng bái vào tết Hàn Thực để làm trọn đạo hiếu, đồng thời đưa vào một trong ngũ lễ (Đường hội yếu – Quyển 23). Bốn năm sau lại hạ một chiếu chỉ “Hàn Thực thông Thanh Minh tứ nhật vi giả” (Nghỉ lễ bốn ngày liền mạch từ Hàn Thực đến Thanh Minh) (Đường lục điển – Quyển 2).
Cách nghỉ lễ nối tiếp Hàn Thực và Thanh Minh kéo dài từ thời Đường đến thời Tống. Trong kỳ nghỉ lễ Hàn Thực và Thanh Minh thời Tống, bốn phía ngoại ô đông như họp chợ, người dân kinh đô lũ lượt kéo ra khỏi thành tảo mộ, trong đó việc cúng bái mộ mới được coi trọng nhất, đều diễn ra vào dịp Thanh Minh (Đông Kinh mộng hoa lục). Từ đó trở đi, phong tục ra mộ phần cúng bái vào tết Thanh Minh được duy trì cho đến ngày nay.
Thả diều dứt tai ương Thời Thanh rất thịnh hành việc thả diều trên bãi cỏ xanh sau khi ra mộ dịp Thanh Minh. Người ta viết những bệnh tật, tai ương lên diều, đợi diều bay xa rồi cắt đứt dây, cầu mong tai họa sẽ theo gió bay đi (Đế Kinh tuế thời kỷ thắng).
Vì sao thả diều lại trở thành nghi thức tượng trưng cho “đứt thuốc xả xui”? Bởi vì thời Thanh gọi diều là “Chỉ diêu” (diều giấy), cắt đứt dây diều tức là “đoạn diêu”, đồng âm với “đoạn dược” (cắt đứt thuốc thang), cứ như vậy việc thả diều đã trở thành biểu tượng cho tâm nguyện “đứt thuốc xả xui” của người dân.
Phong tục ăn uống Tết Thanh Minh Tết Hàn Thực cấm đốt lửa ba ngày kéo dài đến Thanh Minh, các triều đại phần lớn ăn cháo khô, cháo ngọt, đồ ngọt dễ bảo quản. Nhuận bính (chả giò/bò bía ngọt) là món ăn nguội chủ yếu trong dịp Thanh Minh ở Phúc Kiến, Triều Châu và Đài Loan vào thời Thanh, hiện tại ở Đài Loan vẫn vậy.
Tại sao Nhuận bính lại trở thành món ăn truyền thống trong tết Thanh Minh? Truyền thuyết kể rằng khi quân Niệp nổi loạn thời Thanh, người dân để đối phó với thời cuộc nên đã dùng vỏ bánh cuộn đồ ăn nguội để làm đồ cúng. Nhuận bính theo làn sóng di cư của người Mân Nam truyền đến Đài Loan, trở thành món ăn quen thuộc dịp Thanh Minh. Nhuận bính dùng vỏ bánh mỏng cuộn rau xuân, trứng thái chỉ, thịt thái chỉ, mì sợi, rắc thêm bột đường, bột đậu phộng rồi cuộn lại ăn, tiếp nối di phong của tết Hàn Thực.
Lời tâm tình dịp Thanh Minh Tết Thanh Minh không chỉ là thời điểm cúng bái tổ tiên, mà còn đúc kết sự hồi đáp của dân tộc Trung Hoa đối với tự nhiên đất trời và tinh thần luân lý “thận chung truy viễn” (cẩn trọng khi cha mẹ mất, thành kính tưởng nhớ tổ tiên xa xôi). Thông qua những phong tục tết Thanh Minh vừa tràn đầy sinh khí vừa lắng đọng niềm tưởng nhớ này, tinh thần văn hóa Trung Hoa sâu sắc, sinh động và đầy màu sắc đã được khắc họa rõ nét.
Theo Epoch Times
Văn hóa#Tết #Thanh #Minh #không #tuổi #Sức #sống #thanh #xuân #hòa #quyện #cùng #truyền #thống #cổ #xưa1775231635


Tin cùng chuyên mục:
Đêm cuối trước khi ra tòa, tôi đưa chồng món đồ cũ mèm, nhìn thấy nó anh bỗng quỵ xuống khóc nghẹn xin tôi tha thứ
Hà Nhuận Đông lên tiếng về hình tượng chiến tướng son phấn của Trương Lăng Hách
Cựu cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hòa Bình bị bắt vì lừa 'chạy việc'
Bộ phim kinh dị Việt gây sốt